- Saṁyutta Nikāya 12.29
- 3. Dasabalavagga
Bản dịch
SN 12.29 — Kinh Sa Môn Bà La Môn
Samaṇabrāhmaṇasutta
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2-12. —Ở đây, này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không hiểu rõ già, chết, không hiểu rõ già, chết tập khởi, không hiểu rõ già, chết đoạn diệt, không hiểu rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt, không hiểu rõ sanh … (như trên) … Hữu … thủ … ái … thọ … xúc … sáu xứ … danh sắc … thức … không hiểu rõ hành, không hiểu rõ hành tập khởi, không hiểu rõ hành đoạn diệt, không hiểu rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt.
Vi-n 13 Những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Và những Tôn giả ấy cũng không có thể ngay trong đời sống hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 14-24. Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào hiểu rõ già, chết, hiểu rõ già, chết tập khởi, hiểu rõ già, chết đoạn diệt, hiểu rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt, hiểu rõ sanh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … sáu xứ … danh sắc … thức … hiểu rõ hành, hiểu rõ hành tập khởi, hiểu rõ hành đoạn diệt, hiểu rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt.
Vi-n 25 Những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Và những Tôn giả ấy ngay trong đời sống hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh hay mục đích Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.29
- 3. The Ten Powers
Ascetics and Brahmins
9. Kinh Sa Môn Bà La Môn
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Tatra kho …pe… ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ na parijānanti, jarāmaraṇasamudayaṁ na parijānanti, jarāmaraṇanirodhaṁ na parijānanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ na parijānanti, jātiṁ na parijānanti …pe… bhavaṁ … upādānaṁ … taṇhaṁ … vedanaṁ … phassaṁ … saḷāyatanaṁ … nāmarūpaṁ … viññāṇaṁ … saṅkhāre … saṅkhārasamudayaṁ … saṅkhāranirodhaṁ … saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ na parijānanti. Na mete, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā. Na ca panete āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
At Sāvatthī.
“There are ascetics and brahmins who don’t completely understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They don’t completely understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They don’t completely understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
29. Trú ở Sāvatthī... cho đến... “Này các tỳ khưu, bất cứ những sa môn hay bà la môn nào không liễu tri già chết, không liễu tri sự sanh khởi của già chết, không liễu tri sự diệt tận của già chết, không liễu tri con đường đưa đến sự diệt tận của già chết; không liễu tri sanh... cho đến... hữu... thủ... ái... thọ... xúc... sáu xứ... danh sắc... thức... các hành... sự sanh khởi của các hành... sự diệt tận của các hành... không liễu tri con đường đưa đến sự diệt tận của các hành. Này các tỳ khưu, những sa môn hay bà la môn ấy không được xem là sa môn trong hàng sa môn, hay không được xem là bà la môn trong hàng bà la môn. Và những vị tôn giả ấy đã không tự mình chứng ngộ, thực chứng, và thành tựu an trú trong mục đích của sa môn hạnh hay mục đích của bà la môn hạnh ngay trong hiện tại.”
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ parijānanti, jarāmaraṇasamudayaṁ parijānanti, jarāmaraṇanirodhaṁ parijānanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ parijānanti, jātiṁ parijānanti …pe… bhavaṁ … upādānaṁ … taṇhaṁ … vedanaṁ … phassaṁ … saḷāyatanaṁ … nāmarūpaṁ … viññāṇaṁ … saṅkhāre parijānanti, saṅkhārasamudayaṁ parijānanti, saṅkhāranirodhaṁ parijānanti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ parijānanti. Te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā. Te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Navamaṁ.
There are ascetics and brahmins who completely understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They completely understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They completely understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
“Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào liễu tri già chết, liễu tri sự tập khởi của già chết, liễu tri sự đoạn diệt của già chết, liễu tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của già chết; liễu tri sanh... cho đến... hữu... thủ... ái... thọ... xúc... sáu xứ... danh sắc... thức... liễu tri các hành, liễu tri sự tập khởi của các hành, liễu tri sự đoạn diệt của các hành, liễu tri con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành. Này các Tỳ khưu, đối với Ta, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn trong các hàng Sa-môn và được xem là Bà-la-môn trong các hàng Bà-la-môn. Và các bậc tôn giả ấy, ngay trong hiện tại, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, đạt đến và an trú mục đích của Sa-môn và mục đích của Bà-la-môn.” Kinh thứ chín.