- Saṁyutta Nikāya 12.28
- 3. Dasabalavagga
Bản dịch
SN 12.28 — Kinh Tỳ Khưu
Bhikkhusutta
Vi-n 1 .. Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Tại đây …
Vi-n 3 —Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hiểu rõ già, chết, hiểu rõ già, chết tập khởi, hiểu rõ già, chết đoạn diệt, hiểu rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt … (như trên) …
Vi-n 4 … Hiểu rõ sanh …
Vi-n 5 … Hiểu rõ hữu …
Vi-n 6 … Hiểu rõ thủ …
Vi-n 7 … Hiểu rõ ái …
Vi-n 8 … Hiểu rõ thọ …
Vi-n 9 … Hiểu rõ xúc …
Vi-n 10 … Hiểu rõ sáu xứ …
Vi-n 11 … Hiểu rõ danh sắc …
Vi-n 12 … Hiểu rõ thức …
Vi-n 13 … Hiểu rõ hành, hiểu rõ hành tập khởi, hiểu rõ hành đoạn diệt.
Vi-n 14 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là già, chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ đồi bại, các căn chín muồi; đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ loại chúng sanh khác, bị hủy diệt, hủy hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụn, thân thể hoại diệt, vứt bỏ; đây gọi là chết. Như vậy đây là già, đây là chết. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là già, chết.
Vi-n 15 Do sanh khởi, già, chết khởi. Do sanh diệt, già, chết diệt. Ðây là Thánh đạo tám ngành đưa đến già, chết đoạn diệt, tức là chánh tri kiến … chánh định.
Vi-n 16-24. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sanh … (như trên) … Này các Tỷ-kheo, thế nào là hữu … Này các Tỷ-kheo, thế nào là thủ … Này các Tỷ-kheo, thế nào là ái … là thọ … là xúc … là sáu xứ … là danh sắc … là thức? …
Vi-n 25 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có ba hành này, này các Tỷ-kheo: thân hành, khẩu hành, ý hành. Ba hành này, này các Tỷ-kheo, được gọi là hành.
Do vô minh khởi nên hành khởi. Do vô minh diệt nên hành diệt. Ðây chính là Thánh đạo tám ngành đưa đến hành đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến … (như trên) … chánh định.
Vi-n 26 Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo biết rõ già, chết như vậy, biết rõ già, chết tập khởi như vậy, biết rõ già, chết đoạn diệt như vậy, biết rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt như vậy.
Vi-n 27-36. Do biết rõ sanh như vậy … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … sáu xứ … danh sắc … thức … Do biết rõ hành như vậy, biết rõ hành tập khởi như vậy, biết rõ hành đoạn diệt như vậy, do biết rõ con đường đưa đến hành đoạn diệt như vậy.
Vi-n 37 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy được gọi là đạt tri kiến, đạt kiến, đã đi đến diệu pháp này, thấy được diệu pháp này, đã đầy đủ hữu học trí, đã đầy đủ hữu học minh, đã nhập được pháp lưu, là bậc Thánh minh đạt tuệ, đã đứng gõ vào cửa bất tử.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.28
- 3. The Ten Powers
A Mendicant
8. Kinh Tỳ Khưu
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Tatra kho …pe… idha, bhikkhave, bhikkhu jarāmaraṇaṁ pajānāti, jarāmaraṇasamudayaṁ pajānāti, jarāmaraṇanirodhaṁ pajānāti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, jātiṁ pajānāti …pe… bhavaṁ pajānāti … upādānaṁ pajānāti … taṇhaṁ pajānāti … vedanaṁ pajānāti … phassaṁ pajānāti … saḷāyatanaṁ pajānāti … nāmarūpaṁ pajānāti … viññāṇaṁ pajānāti … saṅkhāre pajānāti, saṅkhārasamudayaṁ pajānāti, saṅkhāranirodhaṁ pajānāti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti.
At Sāvatthī.
“A mendicant understands old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation.
28. Trú ở Sāvatthī... cho đến... “Này các tỳ khưu, ở đây, vị tỳ khưu biết rõ già chết, biết rõ sự sanh khởi của già chết, biết rõ sự diệt tận của già chết, biết rõ con đường đưa đến sự diệt tận của già chết; biết rõ sanh... cho đến... biết rõ hữu... biết rõ thủ... biết rõ ái... biết rõ thọ... biết rõ xúc... biết rõ sáu xứ... biết rõ danh sắc... biết rõ thức... biết rõ các hành, biết rõ sự sanh khởi của các hành, biết rõ sự diệt tận của các hành, biết rõ con đường đưa đến sự diệt tận của các hành.”
Katamañca, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ? Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhi tamhi sattanikāye jarā jīraṇatā khaṇḍiccaṁ pāliccaṁ valittacatā āyuno saṁhāni indriyānaṁ paripāko—ayaṁ vuccati jarā. Yā tesaṁ tesaṁ sattānaṁ tamhā tamhā sattanikāyā cuti cavanatā bhedo antaradhānaṁ maccu maraṇaṁ kālakiriyā khandhānaṁ bhedo kaḷevarassa nikkhepo; idaṁ vuccati maraṇaṁ. Iti ayañca jarā idañca maraṇaṁ. Idaṁ vuccati, bhikkhave, jarāmaraṇaṁ. Jātisamudayā jarāmaraṇasamudayo; jātinirodhā jarāmaraṇanirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo jarāmaraṇanirodhagāminī paṭipadā. Seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what is old age and death? The old age, decrepitude, broken teeth, grey hair, wrinkly skin, diminished vitality, and failing faculties of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called old age. The passing away, passing on, disintegration, demise, mortality, death, decease, breaking up of the aggregates, and laying to rest of the corpse of the various sentient beings in the various orders of sentient beings. This is called death. Such is old age, and such is death. This is called old age and death. Rebirth is the origin of old age and death. When rebirth ceases, old age and death cease. The practice that leads to the cessation of old age and death is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
“Này các tỳ khưu, già chết là gì? Đối với các chúng sanh ấy trong từng giới loại chúng sanh ấy, sự già, sự suy yếu, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm sút, các căn chín muồi – điều này được gọi là già. Đối với các chúng sanh ấy từ từng giới loại chúng sanh ấy, sự từ bỏ, sự ra đi, sự tan rã, sự biến mất, sự chết, sự mệnh chung, sự làm nên thời gian, sự tan rã của các uẩn, sự vứt bỏ thân xác; điều này được gọi là chết. Như vậy, đây là già và đây là chết. Này các tỳ khưu, điều này được gọi là già chết. Do sanh sanh khởi nên già chết sanh khởi; do sanh diệt nên già chết diệt. Thánh đạo tám ngành này chính là con đường đưa đến sự diệt tận của già chết. Tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.”
Katamā ca, bhikkhave, jāti …pe… katamo ca, bhikkhave, bhavo … katamañca, bhikkhave, upādānaṁ … katamā ca, bhikkhave, taṇhā … vedanā … phasso … saḷāyatanaṁ … nāmarūpaṁ … viññāṇaṁ ….
And what is rebirth? … And what is continued existence? … And what is grasping? … And what is craving? … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness …
“Này các tỳ khưu, sanh là gì? ... cho đến ... Này các tỳ khưu, hữu là gì? ... Này các tỳ khưu, thủ là gì? ... ái ... thọ ... xúc ... sáu xứ ... danh sắc ... thức ... .”
Katame ca, bhikkhave, saṅkhārā? Tayome, bhikkhave, saṅkhārā—kāyasaṅkhāro, vacīsaṅkhāro, cittasaṅkhāro. Ime vuccanti, bhikkhave, saṅkhārā. Avijjāsamudayā saṅkhārasamudayo; avijjānirodhā saṅkhāranirodho. Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo saṅkhāranirodhagāminī paṭipadā. Seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
And what are choices? There are three kinds of choices. Choices by way of body, speech, and mind. These are called choices. Ignorance is the origin of choices. When ignorance ceases, choices cease. The practice that leads to the cessation of choices is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
“Này các tỳ khưu, các hành là gì? Này các tỳ khưu, có ba loại hành này: thân hành, khẩu hành, tâm hành. Này các tỳ khưu, những điều này được gọi là các hành. Do vô minh sanh nên các hành sanh; do vô minh diệt nên các hành diệt. Thánh đạo tám ngành này chính là con đường đưa đến sự diệt tận của các hành. Tức là: chánh kiến... cho đến... chánh định.”
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ jarāmaraṇaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇasamudayaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhaṁ pajānāti, evaṁ jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti, evaṁ jātiṁ pajānāti …pe… bhavaṁ … upādānaṁ … taṇhaṁ … vedanaṁ … phassaṁ … saḷāyatanaṁ … nāmarūpaṁ … viññāṇaṁ … saṅkhāre … saṅkhārasamudayaṁ … saṅkhāranirodhaṁ … evaṁ saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānāti. Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu diṭṭhisampanno itipi, dassanasampanno itipi, āgato imaṁ saddhammaṁ itipi, passati imaṁ saddhammaṁ itipi, sekkhena ñāṇena samannāgato itipi, sekkhāya vijjāya samannāgato itipi, dhammasotaṁ samāpanno itipi, ariyo nibbedhikapañño itipi, amatadvāraṁ āhacca tiṭṭhati itipī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
A mendicant understands old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. This mendicant is called: ‘one accomplished in view’, ‘one accomplished in vision’, ‘one who has come to the true teaching’, ‘one who sees this true teaching’, ‘one endowed with a trainee’s insight’, ‘one endowed with a trainee’s knowledge’, ‘one who has entered the stream of the teaching’, ‘a noble one with penetrative wisdom’, and also ‘one who stands pressing against the door to freedom from death’.”
“Này các tỳ khưu, khi nào vị tỳ khưu biết rõ già chết như vậy, biết rõ sự sanh khởi của già chết như vậy, biết rõ sự diệt tận của già chết như vậy, biết rõ con đường đưa đến sự diệt tận của già chết như vậy; biết rõ sanh như vậy... cho đến... hữu... thủ... ái... thọ... xúc... sáu xứ... danh sắc... thức ... các hành... sự sanh khởi của các hành... sự diệt tận của các hành... biết rõ con đường đưa đến sự diệt tận của các hành như vậy. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này được gọi là người đầy đủ chánh kiến, cũng được gọi là người đầy đủ tri kiến, cũng được gọi là người đã đến với diệu pháp này, cũng được gọi là người thấy được diệu pháp này, cũng được gọi là người đầy đủ trí tuệ của bậc hữu học, cũng được gọi là người đầy đủ minh của bậc hữu học, cũng được gọi là người đã nhập vào dòng pháp, cũng được gọi là bậc thánh có trí tuệ thể nhập, cũng được gọi là người đứng chạm vào cửa bất tử.” (Kinh) thứ tám.