- Saṁyutta Nikāya 12.25
- 3. Dasabalavagga
Bản dịch
SN 12.25 — Kinh Bhūmija
Bhūmijasutta
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Bhùmija, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư Thiền tịnh đứng đậy, đi đến Tôn giả Sāriputta; sau khi đến nói lên với Tôn giả Sāriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhùmija thưa Tôn giả Sāriputta:
Vi-n 3 —Hiền giả Sàruputta, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm. Hiền giả Sàruputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do người khác làm. Hiền giả Sāriputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc do tự mình làm và do người khác làm. Hiền giả Sāriputta, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ lạc không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên sanh.
Vi-n 4 Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Thế Tôn thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp; và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn không tìm được lý do để chỉ trích?
Vi-n 5 —Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói lạc khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố, không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp, và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
Vi-n 6 Ở đây, này Hiền giả, các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm; lạc khổ ấy chính do duyên xúc. Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào … (như trên) … Các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố là lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh; lạc khổ ấy chính do duyên xúc.
Vi-n 7 Ở đây, này Hiền giả, các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Các Sa-môn, Bà-la-môn nào … (như trên) … Các Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 8 Tôn giả Ānanda được nghe chuyện này giữa Tôn giả Sāriputta với Tôn giả Bhùmija.
Vi-n 9 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda đem tất cả câu chuyện xảy ra như thế nào giữa Tôn giả Sāriputta với Tôn giả Bhùmija bạch lên Thế Tôn.
Vi-n 10 —Lành thay, lành thay! Này Ānanda, Sāriputta trả lời như vậy là trả lời một cách chơn chánh. Này Ānanda, Ta nói rằng khổ là do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không có thể tìm được lý do để chỉ trích.
Vi-n 11 Ở đây, này Ānanda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, lạc khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào … (như trên) … Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ lạc do tự nhiên sanh; khổ lạc ấy chính do duyên xúc.
Vi-n 12 Ở đây, này Ānanda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện ấy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào … (như trên) … Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, lạc khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện ấy không xảy ra.
Vi-n 13 Này Ānanda, chỗ nào có thân, do nhân thân tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có lời nói, này Ānanda, do nhân khẩu tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ. Chỗ nào có ý, này Ānanda, do nhân ý tư niệm, thời nội thân khởi lên lạc khổ.
Vi-n 14 Do duyên vô minh, hoặc tự chúng ta, này Ānanda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ānanda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ānanda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ānanda, làm các thân hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Vi-n 15 Hoặc tự chúng ta, này Ānanda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ānanda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Vi-n 16 Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ānanda … (như trên) … Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ānanda, làm các khẩu hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Vi-n 17 Hoặc tự mình, này Ānanda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Hoặc những người khác, này Ānanda, làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Vi-n 18 Hoặc với ý thức rõ ràng, này Ānanda … (như trên) … Hoặc không với ý thức rõ ràng, này Ānanda làm các ý hành; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Vi-n 19 Này Ānanda, trong sáu pháp này, đều bị vô minh chi phối. Này Ānanda, với ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh, thân ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Khẩu ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Ý ấy không có; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ. Chúng không phải là đồng ruộng, chúng không phải là căn cứ, chúng không phải là xứ, chúng không phải là luận sự; do duyên ấy, nội thân khởi lên lạc khổ.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.25
- 3. The Ten Powers
With Bhūmija
5. Kinh Bhūmija
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho āyasmā bhūmijo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā bhūmijo āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
At Sāvatthī.
Then in the late afternoon, Venerable Bhūmija came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to him:
25. (Thế Tôn) trú ở Sāvatthī. Bấy giờ, vào buổi chiều, Tôn giả Bhūmija từ nơi độc cư đứng dậy, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta; sau khi đến, đã cùng Tôn giả Sāriputta chào hỏi thân mật. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân tình, đáng ghi nhớ, Tôn giả Bhūmija ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Bhūmija bạch với Tôn giả Sāriputta rằng:
“Santāvuso sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ paññapenti. Santi panāvuso sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā paraṅkataṁ sukhadukkhaṁ paññapenti. Santāvuso sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkatañca paraṅkatañca sukhadukkhaṁ paññapenti. Santi panāvuso sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ paññapenti. Idha no, āvuso sāriputta, bhagavā kiṁvādī kimakkhāyī, kathaṁ byākaramānā ca mayaṁ vuttavādino ceva bhagavato assāma, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyāma, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyāma, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti?
“Reverend Sāriputta, there are ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. Some of them assert that pleasure and pain are made by oneself. Some of them assert that pleasure and pain are made by another. Some of them assert that pleasure and pain are made by both oneself and another. Some of them assert that pleasure and pain arise anomalously, not made by oneself or another. What does the Buddha say about this? How does he explain it? How should we answer so as to repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth? How should we explain in line with his teaching, with no legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
“Thưa hiền giả Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những người chủ trương về nghiệp, họ tuyên bố rằng lạc khổ là do tự mình làm. Lại nữa, thưa hiền giả Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những người chủ trương về nghiệp, họ tuyên bố rằng lạc khổ là do người khác làm. Thưa hiền giả Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những người chủ trương về nghiệp, họ tuyên bố rằng lạc khổ là vừa do tự mình làm vừa do người khác làm. Lại nữa, thưa hiền giả Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn là những người chủ trương về nghiệp, họ tuyên bố rằng lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sinh khởi. Ở đây, thưa hiền giả Sāriputta, Thế Tôn của chúng ta chủ trương thế nào, tuyên thuyết thế nào? Chúng con phải trả lời như thế nào để vừa nói lên lời của Thế Tôn đã dạy, vừa không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, lại vừa giải thích pháp đúng với pháp, và không có một luận điểm hợp pháp nào có thể bị chỉ trích?”
“Paṭiccasamuppannaṁ kho, āvuso, sukhadukkhaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiṁ paṭicca? Phassaṁ paṭicca. Iti vadaṁ vuttavādī ceva bhagavato assa, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyya, dhammassa cānudhammaṁ byākareyya, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyya.
“Reverend, the Buddha has said that pleasure and pain are dependently originated. Dependent on what? Dependent on contact. In speaking like this, you would repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth. You would explain in line with his teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
“Này hiền giả, lạc khổ đã được Thế Tôn nói là do duyên khởi. Duyên vào cái gì? Duyên vào xúc. Người nói như vậy là đã nói lên lời của Thế Tôn đã dạy, không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, giải thích pháp đúng với pháp, và không có một luận điểm hợp pháp nào có thể bị chỉ trích.
Tatrāvuso, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ paññapenti, tadapi phassapaccayā. Yepi te …pe… yepi te …pe… yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ paññapenti, tadapi phassapaccayā.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who assert that pleasure and pain are made by oneself, that’s dependent on contact. … In the case of those who assert that pleasure and pain arise anomalously, not made by oneself or another, that’s also dependent on contact.
“Này hiền giả, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố rằng lạc khổ do tự mình làm, điều ấy cũng do duyên xúc. Những vị... (như trên)... những vị... (như trên)... những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố rằng lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sinh khởi, điều ấy cũng do duyên xúc.
Tatrāvuso, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yepi te …pe… yepi te …pe… yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who assert that pleasure and pain are made by oneself, it’s impossible that they will experience that without contact. … In the case of those who assert that pleasure and pain arise anomalously, not made by oneself or another, it’s impossible that they will experience that without contact.”
“Này hiền giả, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố rằng lạc khổ do tự mình làm, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra. Những vị... (như trên)... những vị... (như trên)... những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố rằng lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sinh khởi, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra.”
Assosi kho āyasmā ānando āyasmato sāriputtassa āyasmatā bhūmijena saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ. Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando yāvatako āyasmato sāriputtassa āyasmatā bhūmijena saddhiṁ ahosi kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Venerable Ānanda heard this discussion between Venerable Sāriputta and Venerable Bhūmija. Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed.
Tôn giả Ānanda đã nghe cuộc đối thoại này giữa Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Bhūmija. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda đã trình bày lại với Thế Tôn toàn bộ cuộc đối thoại đã diễn ra giữa Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Bhūmija.
“Sādhu sādhu, ānanda, yathā taṁ sāriputto sammā byākaramāno byākareyya. Paṭiccasamuppannaṁ kho, ānanda, sukhadukkhaṁ vuttaṁ mayā. Kiṁ paṭicca? Phassaṁ paṭicca. Iti vadaṁ vuttavādī ceva me assa, na ca maṁ abhūtena abbhācikkheyya, dhammassa cānudhammaṁ byākareyya, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyya.
“Good, good, Ānanda! It’s just as Sāriputta has so rightly explained. I have said that pleasure and pain are dependently originated. Dependent on what? Dependent on contact. In speaking like this, you would repeat what I have said, and not misrepresent me with an untruth. You would explain in line with my teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
“Lành thay, lành thay, Ānanda! Sāriputta đã trả lời đúng như một người cần phải trả lời một cách đúng đắn. Này Ānanda, lạc khổ đã được Ta nói là do duyên khởi. Duyên vào cái gì? Duyên vào xúc. Người nói như vậy là đã nói lên lời của Ta đã dạy, không xuyên tạc Ta bằng điều không thật, giải thích pháp đúng với pháp, và không có một luận điểm hợp pháp nào có thể bị chỉ trích.
Tatrānanda, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā. Yepi te …pe… yepi te …pe… yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who assert that pleasure and pain are made by oneself, that’s dependent on contact. … In the case of those who assert that pleasure and pain arise anomalously, not made by oneself or another, that’s also dependent on contact.
“Này Ānanda, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố rằng lạc khổ do tự mình làm, điều ấy cũng do duyên xúc. Những vị... (như trên)... những vị... (như trên)... những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố rằng lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sinh khởi, điều ấy cũng do duyên xúc.
Tatrānanda, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ sukhadukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yepi te …pe… yepi te …pe… yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ sukhadukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who assert that pleasure and pain are made by oneself, it’s impossible that they will experience that without contact. … In the case of those who assert that pleasure and pain arise anomalously, not made by oneself or another, it’s impossible that they will experience that without contact.
“Này Ānanda, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố rằng lạc khổ do tự mình làm, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra. Những vị... (như trên)... những vị... (như trên)... những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố rằng lạc khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sinh khởi, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra.
Kāye vā hānanda, sati kāyasañcetanāhetu uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Vācāya vā hānanda, sati vacīsañcetanāhetu uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Mane vā hānanda, sati manosañcetanāhetu uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ avijjāpaccayā ca.
Ānanda, as long as there’s a body, the intention that gives rise to bodily action causes pleasure and pain to arise in oneself. As long as there’s a voice, the intention that gives rise to verbal action causes pleasure and pain to arise in oneself. As long as there’s a mind, the intention that gives rise to mental action causes pleasure and pain to arise in oneself. But this is only when dependent on ignorance.
“Này Ānanda, khi có thân, do nhân là thân tư, lạc khổ nội tại sinh khởi. Này Ānanda, khi có lời nói, do nhân là khẩu tư, lạc khổ nội tại sinh khởi. Này Ānanda, khi có ý, do nhân là ý tư, lạc khổ nội tại sinh khởi. Và (những tư ấy) cũng do duyên vô minh.
Sāmaṁ vā taṁ, ānanda, kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Pare vā taṁ, ānanda, kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharonti, yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Sampajāno vā taṁ, ānanda, kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Asampajāno vā taṁ, ānanda, kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ.
By oneself one instigates the choice that gives rise to bodily, verbal, and mental action, conditioned by which that pleasure and pain arise in oneself. Or else others instigate the choice … One instigates the choice after deliberation … Or else one instigates the choice without deliberation …
“Này Ānanda, hoặc tự mình tạo tác thân hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tại sinh khởi cho người ấy. Hoặc người khác tạo tác thân hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tại sinh khởi cho người ấy. Hoặc có tỉnh giác mà tạo tác thân hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tại sinh khởi cho người ấy. Hoặc không tỉnh giác mà tạo tác thân hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tại sinh khởi cho người ấy.
Sāmaṁ vā taṁ, ānanda, vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Pare vā taṁ, ānanda, vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharonti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Sampajāno vā taṁ, ānanda …pe… asampajāno vā taṁ, ānanda, vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ.
Này Ānanda, hoặc tự mình tạo tác khẩu hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi. Hoặc những người khác, này Ānanda, tạo tác khẩu hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi. Hoặc có tỉnh giác, này Ānanda... cho đến... hoặc không có tỉnh giác, này Ānanda, người ấy tạo tác khẩu hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi.
Sāmaṁ vā taṁ, ānanda, manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Pare vā taṁ, ānanda, manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharonti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Sampajāno vā taṁ, ānanda …pe… asampajāno vā taṁ, ānanda, manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ.
Này Ānanda, hoặc tự mình tạo tác ý hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi. Hoặc những người khác, này Ānanda, tạo tác ý hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi. Hoặc có tỉnh giác, này Ānanda... cho đến... hoặc không có tỉnh giác, này Ānanda, người ấy tạo tác ý hành ấy, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi.
Imesu, ānanda, dhammesu avijjā anupatitā. Avijjāya tveva, ānanda, asesavirāganirodhā so kāyo na hoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Sā vācā na hoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. So mano na hoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhaṁ. Khettaṁ taṁ na hoti …pe… vatthu taṁ na hoti …pe… āyatanaṁ taṁ na hoti …pe… adhikaraṇaṁ taṁ na hoti yaṁpaccayāssa taṁ uppajjati ajjhattaṁ sukhadukkhan”ti.
Pañcamaṁ.
Ignorance is included in all these things. But when ignorance fades away and ceases with no residue left behind, that body, that voice, and that mind no longer exist dependent on which that pleasure and pain arise in oneself. That field does not exist, that ground does not exist, that dimension does not exist, that foundation does not exist, dependent on which that pleasure and pain arise in oneself.”
Này Ānanda, trong các pháp này, vô minh đi theo sau. Này Ānanda, do sự ly tham và đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, thân hành ấy không tồn tại, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi. Khẩu hành ấy không tồn tại, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi. Ý hành ấy không tồn tại, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi. Mảnh đất ấy không tồn tại... cho đến... nền tảng ấy không tồn tại... cho đến... xứ ấy không tồn tại... cho đến... nguyên nhân ấy không tồn tại, do duyên ấy mà lạc khổ nội tâm sanh khởi. Hết phẩm thứ năm.