- Saṁyutta Nikāya 12.24
- 3. Dasabalavagga
Bản dịch
SN 12.24 — Kinh Ngoại Đạo
Aññatitthiyasutta
Vi-n 1 … Trú ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm).
Vi-n 2 Tôn giả Sāriputta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Vương Xá để khất thực.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ: “Thật là quá sớm để vào Vương Xá khất thực. Ta hãy đi đến vườn của các du sĩ ngoại đạo”.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến vườn của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, Tôn giả liền ngồi xuống một bên.
Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Tôn giả Sāriputta đang ngồi xuống một bên:
Vi-n 5 —Này Hiền giả Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm. Này Hiền giả Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Này Hiền giả Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Này Hiền giả Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh.
Vi-n 6 Ở đây, này Hiền giả Sāriputta, Sa-môn Gotama thuyết như thế nào, tuyên bố như thế nào? Và chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Sa-môn Gotama tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Sa-môn Gotama không đúng sự thực. Pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp; và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
Vi-n 7 Chư Hiền giả, Thế Tôn đã nói khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Thế Tôn tuyên bố, không xuyên tạc Thế Tôn không đúng sự thật, pháp được trả lời là thuận pháp, và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
Vi-n 8 Ở đây, này chư Hiền, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm; khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm; khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm; khổ ấy chính do duyên xúc … Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.
Vi-n 9 Ở đây, này chư Hiền, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Và những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra. Và những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 10 Tôn giả Ānanda nghe câu chuyện giữa Tôn giả Sāriputta với các du sĩ ngoại đạo ấy.
Vi-n 11 Rồi Tôn giả Ānanda, đi khất thực ở Vương Xá xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda đem tất cả câu chuyện xảy ra giữa Tôn giả Sāriputta và các du sĩ ngoại đạo trình bày lên Thế Tôn.
Vi-n 12 —Lành thay, lành thay, này Ānanda! Sāriputta trả lời như vậy là trả lời một cách chơn chánh. Này Ānanda, Ta nói rằng khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thật, và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn, cũng không tìm được lý do để chỉ trích.
Vi-n 13 Ở đây, này Ānanda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm, khổ ấy chính do duyên xúc. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào … (như trên) … Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.
Vi-n 14 Ở đây, nàyAnanda, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc, sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào … (như trên) … Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh, họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 15 Này Ānanda, một thời Ta trú ở Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 16 Rồi này Ānanda, vào buổi sáng Ta đắp y, cầm y bát đi vào Vương Xá để khất thực.
Vi-n 17 Rồi này Ānanda, Ta suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm đi vào Vương Xá để khất thực. Vậy Ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”.
Vi-n 18 Rồi này Ānanda, Ta đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến Ta nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, Ta ngồi xuống một bên.
Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Ta đang ngồi một bên:
Vi-n 19 “—Này Hiền giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm. Này Hiền giả Gotama, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Này Hiền giả Gotama, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do người khác làm. Nay Hiền giả Gotama, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh.
Vi-n 20 Ở đây, Tôn giả Gotama thuyết như thế nào? Chúng tôi trả lời như thế nào để đáp đúng lời Tôn giả Gotama tuyên bố; chúng tôi không xuyên tạc Tôn giả Gotama không đúng sự thật; pháp chúng tôi trả lời là thuận pháp và một vị đồng pháp nào muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích?”
Vi-n 21 Khi được nói vậy, này Ānanda, Ta nói với các du sĩ ngoại đạo ấy:
“—Này chư Hiền, Ta đã nói khổ do duyên mà sanh. Do duyên gì? Do duyên xúc. Nói như vậy là đáp đúng lời Ta tuyên bố, không xuyên tạc Ta không đúng sự thật; pháp được trả lời là thuận pháp; và một vị đồng pháp nào có muốn cật vấn cũng không tìm được lý do để chỉ trích”.
Vi-n 22 Ở đây, chư Hiền giả, có những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm; khổ ấy chính do duyên xúc. Có những Sa-môn, Bà-la-môn nào … (như trên) … Có những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm và không do người khác làm, khổ do tự nhiên sanh; khổ ấy chính do duyên xúc.
Vi-n 23 Ở đây, chư Hiền giả, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp tuyên bố khổ do tự mình làm; họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc, sự kiện như vậy không xảy ra. Những Sa-môn, Bà-la-môn … (như trên) … Những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương về nghiệp tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh. Họ chắc chắn có thể tự cảm thọ không cần đến xúc; sự kiện như vậy không xảy ra.
Vi-n 24 —Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Làm sao tất cả nghĩa được nói chỉ trong một câu. Bạch Thế Tôn, nếu nghĩa này được nói rộng ra, nghĩa này sẽ sâu thẳm và có vẻ được xem là sâu thẳm.
Vi-n 25 —Vậy này Ānanda, Ông hãy trình bày nghĩa ấy ở đây.
Vi-n 26 —Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ānanda, già, chết lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?” Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Già, chết, thưa các Tôn giả, lấy sanh làm nhân, lấy sanh tập khởi, lấy sanh tác sanh, lấy sanh làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 27 Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ānanda, sanh lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời: “Sanh, thưa các Tôn giả, lấy hữu làm nhân, lấy hữu tập khởi, lấy hữu tác sanh, lấy hữu làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 28 Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ānanda, hữu lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Hữu, thưa các Tôn giả, lấy thủ làm nhân, lấy thủ tập khởi, lấy thủ tác sanh, lấy thủ làm hiện hữu”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Vi-n 29-31. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ānanda, thủ lấy gì làm nhân … ái lấy gì làm nhân … thọ lấy gì làm nhân … (như trên).”. Bạch Thế Tôn, nếu họ hỏi con: “Này Hiền giả Ānanda, xúc lấy gì làm nhân, lấy gì tập khởi, lấy gì tác sanh, lấy gì làm hiện hữu?”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con sẽ trả lời như sau: “Xúc, thưa các Hiền giả, lấy sáu xứ làm nhân, lấy sáu xứ tập khởi, lấy sáu xứ tác sanh, lấy sáu xứ làm hiện hữu. Thưa các Hiền giả, do sự ly tham, đoạn diệt hoàn toàn các xúc xứ, xúc được đoạn diệt. Do xúc diệt, thọ diệt; do thọ diệt, ái diệt; do ái diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do sanh diệt, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này”. Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời như vậy.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.24
- 3. The Ten Powers
Followers of Other Religions
4. Kinh Ngoại Đạo
Rājagahe viharati veḷuvane. Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi. Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi: “atippago kho tāva rājagahe piṇḍāya carituṁ. Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti.
Near Rājagaha, in the Bamboo Grove. Then Venerable Sāriputta robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Rājagaha. Why don’t I visit the monastery for the wanderers of other religions?”
24. Ngài đang trú tại Rājagaha, ở Veḷuvana. Bấy giờ, Tôn giả Sāriputta vào buổi sáng, đắp y, mang y bát, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Lúc ấy, Tôn giả Sāriputta khởi lên ý nghĩ này: 'Còn quá sớm để đi khất thực ở Rājagaha. Hay là ta nên đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo.'
Atha kho āyasmā sāriputto yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
Then he went to the monastery for the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The wanderers said to him:
Rồi Tôn giả Sāriputta đi đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo. Sau khi đến, ngài đã trao đổi những lời chào hỏi thân mật với các du sĩ ngoại đạo ấy. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ, ngài ngồi xuống một bên. Khi Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy đã nói với ngài như sau:
“Santāvuso sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti. Santi panāvuso sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā paraṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti. Santāvuso sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkatañca paraṅkatañca dukkhaṁ paññapenti. Santi panāvuso sāriputta, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhaṁ paññapenti. Idha, panāvuso sāriputta, samaṇo gotamo kiṁvādī kimakkhāyī? Kathaṁ byākaramānā ca mayaṁ vuttavādino ceva samaṇassa gotamassa assāma, na ca samaṇaṁ gotamaṁ abhūtena abbhācikkheyyāma, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyāma, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti?
“Reverend Sāriputta, there are ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. Some of them assert that suffering is made by oneself. Some of them assert that suffering is made by another. Some of them assert that suffering is made by both oneself and another. Some of them assert that suffering arises anomalously, not made by oneself or another. What does the ascetic Gotama say about this? How does he explain it? How should we answer so as to repeat what the ascetic Gotama has said, and not misrepresent him with an untruth? How should we explain in line with his teaching, with no legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
“Thưa hiền hữu Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, họ tuyên bố rằng khổ do tự mình làm ra. Lại nữa, thưa hiền hữu Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, họ tuyên bố rằng khổ do người khác làm ra. Thưa hiền hữu Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, họ tuyên bố rằng khổ vừa do tự mình làm ra, vừa do người khác làm ra. Lại nữa, thưa hiền hữu Sāriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, họ tuyên bố rằng khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, mà do ngẫu nhiên sanh khởi. Ở đây, thưa hiền hữu Sāriputta, Sa-môn Gotama có chủ trương gì, thuyết giảng điều gì? Chúng tôi phải trình bày như thế nào để vừa nói đúng lời của Sa-môn Gotama, vừa không xuyên tạc Sa-môn Gotama bằng điều không thật, lại vừa trình bày pháp đúng với chánh pháp, và không có một luận điểm hợp lý nào có thể bị chỉ trích?”
“Paṭiccasamuppannaṁ kho, āvuso, dukkhaṁ vuttaṁ bhagavatā. Kiṁ paṭicca? Phassaṁ paṭicca. Iti vadaṁ vuttavādī ceva bhagavato assa, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyya, dhammassa cānudhammaṁ byākareyya, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyya.
“Reverends, the Buddha has said that suffering is dependently originated. Dependent on what? Dependent on contact. In speaking like this, you would repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth. You would explain in line with his teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
“Thưa các hiền hữu, Thế Tôn đã dạy rằng khổ là do duyên khởi. Duyên vào cái gì? Duyên vào xúc. Người nói như vậy là nói đúng lời của Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn bằng điều không thật, trình bày pháp đúng với chánh pháp, và không có một luận điểm hợp lý nào có thể bị chỉ trích.”
Tatrāvuso, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā. Yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā paraṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā. Yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkatañca paraṅkatañca dukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā. Yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who assert that suffering is made by oneself, that’s dependent on contact. In the case of those who assert that suffering is made by another, that’s also dependent on contact. In the case of those who assert that suffering is made by oneself and another, that’s also dependent on contact. In the case of those who assert that suffering arises anomalously, not made by oneself or another, that’s also dependent on contact.
“Thưa các hiền hữu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do tự mình làm ra, điều đó cũng do duyên xúc. Cả những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do người khác làm ra, điều đó cũng do duyên xúc. Cả những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ vừa do tự mình làm ra, vừa do người khác làm ra, điều đó cũng do duyên xúc. Cả những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, mà do ngẫu nhiên sanh khởi, điều đó cũng do duyên xúc.”
Tatrāvuso, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā paraṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkatañca paraṅkatañca dukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who assert that suffering is made by oneself, it’s impossible that they will experience that without contact. In the case of those who declare that suffering is made by another, it’s impossible that they will experience that without contact. In the case of those who assert that suffering is made by oneself and another, it’s impossible that they will experience that without contact. In the case of those who assert that suffering arises anomalously, not made by oneself or another, it’s impossible that they will experience that without contact.”
“Thưa các hiền hữu, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do tự mình làm ra, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra. Cả những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do người khác làm ra, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra. Cả những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ vừa do tự mình làm ra, vừa do người khác làm ra, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra. Cả những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, mà do ngẫu nhiên sanh khởi, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra.”
Assosi kho āyasmā ānando āyasmato sāriputtassa tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ. Atha kho āyasmā ānando rājagahe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando yāvatako āyasmato sāriputtassa tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ ahosi kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
Venerable Ānanda heard this discussion between Venerable Sāriputta and those wanderers of other religions. Then Ānanda wandered for alms in Rājagaha. After the meal, on his return from almsround, he went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and informed the Buddha of all they had discussed.
Tôn giả Ānanda đã nghe được cuộc đối thoại này giữa Tôn giả Sāriputta và các du sĩ ngoại đạo ấy. Sau đó, Tôn giả Ānanda sau khi đi khất thực ở Rājagaha, dùng bữa xong, trên đường từ nơi khất thực trở về, đã đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, ngài đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda đã thuật lại toàn bộ cuộc đối thoại của Tôn giả Sāriputta với các du sĩ ngoại đạo ấy cho Thế Tôn nghe.
“Sādhu sādhu, ānanda, yathā taṁ sāriputto sammā byākaramāno byākareyya. Paṭiccasamuppannaṁ kho, ānanda, dukkhaṁ vuttaṁ mayā. Kiṁ paṭicca? Phassaṁ paṭicca. Iti vadaṁ vuttavādī ceva me assa, na ca maṁ abhūtena abbhācikkheyya, dhammassa cānudhammaṁ byākareyya, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyya.
“Good, good, Ānanda! It’s just as Sāriputta has so rightly explained. I have said that suffering is dependently originated. Dependent on what? Dependent on contact. Saying this you would repeat what I have said, and not misrepresent me with an untruth. You would explain in line with my teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
“Lành thay, lành thay, Ānanda! Sāriputta đã trả lời đúng như một người cần phải trả lời cho đúng. Này Ānanda, Ta đã dạy rằng khổ là do duyên khởi. Duyên vào cái gì? Duyên vào xúc. Người nói như vậy là nói đúng lời của Ta, không xuyên tạc Ta bằng điều không thật, trình bày pháp đúng với chánh pháp, và không có một luận điểm hợp lý nào có thể bị chỉ trích.”
Tatrānanda, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā. Yepi te …pe… yepi te …pe… yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā.
Consider the ascetics and brahmins who teach the efficacy of deeds. In the case of those who assert that suffering is made by oneself, that’s dependent on contact. … In the case of those who assert that suffering arises anomalously, not made by oneself or another, that’s also dependent on contact.
“Này Ānanda, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do tự mình làm ra, điều đó cũng do duyên xúc. Cả những vị... (như trên)... cả những vị... (như trên)... cả những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, mà do ngẫu nhiên sanh khởi, điều đó cũng do duyên xúc.”
Tatrānanda, yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yepi te …pe… yepi te …pe… yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
In the case of those who assert that suffering is made by oneself, it’s impossible that they will experience that without contact. … In the case of those who assert that suffering arises anomalously, not made by oneself or another, it’s impossible that they will experience that without contact.
“Này Ānanda, trong số ấy, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do tự mình làm ra, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra. Cả những vị... (như trên)... cả những vị... (như trên)... cả những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, mà do ngẫu nhiên sanh khởi, việc họ có thể cảm thọ mà không có xúc là điều không thể xảy ra.”
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ idheva rājagahe viharāmi veḷuvane kalandakanivāpe. Atha khvāhaṁ, ānanda, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisiṁ. Tassa mayhaṁ, ānanda, etadahosi: ‘atippago kho tāva rājagahe piṇḍāya carituṁ. Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan’ti.
Ānanda, this one time I was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. Then I robed up in the morning and, taking my bowl and robe, entered Rājagaha for alms. Then I thought: ‘It’s too early to wander for alms in Rājagaha. Why don’t I visit the monastery for the wanderers of other religions?’
“Này Ānanda, một thời ta ở tại Rājagaha này, trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, này Ānanda, vào buổi sáng, ta đắp y, cầm y bát, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Này Ānanda, ta suy nghĩ thế này: ‘Còn quá sớm để đi khất thực ở Rājagaha. Hay là ta đi đến trú xứ của các du sĩ ngoại đạo.’”
Atha khvāhaṁ, ānanda, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodiṁ. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho maṁ, ānanda, te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
Then I went to the monastery for the wanderers of other religions and exchanged greetings with the wanderers there. When the greetings and polite conversation were over, I sat down to one side. …”
“Bấy giờ, này Ānanda, ta đi đến trú xứ của các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, ta đã cùng các du sĩ ngoại đạo ấy trao đổi lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và đáng ghi nhớ, ta ngồi xuống một bên. Này Ānanda, khi ta đang ngồi một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy đã nói với ta điều này:”
‘Santāvuso gotama, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti. Santi panāvuso gotama, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā paraṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti. Santāvuso gotama, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkatañca paraṅkatañca dukkhaṁ paññapenti. Santi panāvuso gotama, eke samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhaṁ paññapenti. Idha no āyasmā gotamo kiṁvādī kimakkhāyī? Kathaṁ byākaramānā ca mayaṁ vuttavādino ceva āyasmato gotamassa assāma, na ca āyasmantaṁ gotamaṁ abhūtena abbhācikkheyyāma, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyāma, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā’ti?
(The wanderers asked the Buddha the very same questions, and he gave the same answers.)
“‘Thưa hiền giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do tự mình làm ra. Lại nữa, thưa hiền giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do người khác làm ra. Thưa hiền giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ vừa do tự mình làm ra, vừa do người khác làm ra. Lại nữa, thưa hiền giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, mà do ngẫu nhiên sinh khởi. Ở đây, Tôn giả Gotama chủ trương gì, tuyên thuyết gì? Làm thế nào để khi chúng tôi giải thích, chúng tôi vừa là người nói lại lời của Tôn giả Gotama, vừa không xuyên tạc Tôn giả Gotama bằng điều không thật, lại vừa giải thích pháp đúng với pháp, và không có một luận điểm hợp lý nào của chúng tôi bị rơi vào tình trạng đáng bị chỉ trích?’”
Evaṁ vuttāhaṁ, ānanda, te aññatitthiye paribbājake etadavocaṁ: ‘paṭiccasamuppannaṁ kho, āvuso, dukkhaṁ vuttaṁ mayā. Kiṁ paṭicca? Phassaṁ paṭicca. Iti vadaṁ vuttavādī ceva me assa, na ca maṁ abhūtena abbhācikkheyya, dhammassa cānudhammaṁ byākareyya, na ca koci sahadhammiko vādānupāto gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyāti.
“Này Ānanda, khi được hỏi như vậy, ta đã nói với các du sĩ ngoại đạo ấy điều này: ‘Này các hiền giả, ta đã nói rằng khổ là do duyên sinh. Duyên vào cái gì? Duyên vào xúc. Người nào nói như vậy thì vừa là người nói lại lời của ta, vừa không xuyên tạc ta bằng điều không thật, lại vừa giải thích pháp đúng với pháp, và không có một luận điểm hợp lý nào bị rơi vào tình trạng đáng bị chỉ trích.’”
Tatrāvuso, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā. Yepi te …pe… yepi te …pe… yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhaṁ paññapenti tadapi phassapaccayā.
“‘Này các hiền giả, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do tự mình làm ra, điều đó cũng do duyên xúc. Những vị ấy… v.v… những vị ấy… v.v… những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, mà do ngẫu nhiên sinh khởi, điều đó cũng do duyên xúc.
Tatrāvuso, ye te samaṇabrāhmaṇā kammavādā sayaṅkataṁ dukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yepi te …pe… yepi te …pe… yepi te samaṇabrāhmaṇā kammavādā asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhaṁ paññapenti, te vata aññatra phassā paṭisaṁvedissantīti netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’”ti.
“Acchariyaṁ bhante, abbhutaṁ bhante. Yatra hi nāma ekena padena sabbo attho vutto bhavissati. Siyā nu kho, bhante, esevattho vitthārena vuccamāno gambhīro ceva assa gambhīrāvabhāso cā”ti?
“It’s incredible, sir, it’s amazing, how the whole matter is stated with one phrase. Could there be a detailed explanation of this matter that is both deep and appears deep?”
“‘Này các hiền giả, trong số đó, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ do tự mình làm ra, việc họ sẽ cảm thọ mà không có xúc, điều này không thể xảy ra. Những vị ấy… v.v… những vị ấy… v.v… những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hành động, tuyên bố rằng khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, mà do ngẫu nhiên sinh khởi, việc họ sẽ cảm thọ mà không có xúc, điều này không thể xảy ra.’ ‘Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Toàn bộ ý nghĩa đã được nói ra chỉ bằng một từ. Bạch Thế Tôn, nếu ý nghĩa này được giải thích một cách chi tiết, liệu nó có trở nên sâu sắc và có vẻ sâu sắc không?’”
“Tena hānanda, taññevettha paṭibhātū”ti.
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ: ‘jarāmaraṇaṁ, āvuso ānanda, kiṁnidānaṁ kiṁsamudayaṁ kiṁjātikaṁ kiṁpabhavan’ti? Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ: ‘jarāmaraṇaṁ kho, āvuso, jātinidānaṁ jātisamudayaṁ jātijātikaṁ jātipabhavan’ti. Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ.
“Well then, Ānanda, clarify this matter yourself.”
“Sir, suppose they were to ask me: ‘Reverend Ānanda, what is the source, origin, birthplace, and inception of old age and death?’ I’d answer like this: ‘Reverends, rebirth is the source, origin, birthplace, and inception of old age and death.’ That’s how I’d answer such a question.
“‘Vậy thì, này Ānanda, hãy để điều đó sáng tỏ cho ngươi.’ ‘Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con như vầy: “Này hiền giả Ānanda, già-chết có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm nguồn sinh, có cái gì làm phát sinh?” Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vầy: “Này các hiền giả, già-chết có sinh làm nhân duyên, có sinh làm tập khởi, có sinh làm nguồn sinh, có sinh làm phát sinh.” Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.
Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ: ‘jāti panāvuso ānanda, kiṁnidānā kiṁsamudayā kiṁjātikā kiṁpabhavā’ti? Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ: ‘jāti kho, āvuso, bhavanidānā bhavasamudayā bhavajātikā bhavappabhavā’ti. Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ.
Suppose they were to ask me: ‘What is the source of rebirth?’ I’d answer like this: ‘Continued existence is the source of rebirth.’ That’s how I’d answer such a question.
“‘Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con như vầy: “Còn sinh, này hiền giả Ānanda, có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm nguồn sinh, có cái gì làm phát sinh?” Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vầy: “Này các hiền giả, sinh có hữu làm nhân duyên, có hữu làm tập khởi, có hữu làm nguồn sinh, có hữu làm phát sinh.” Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.
Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ: ‘bhavo panāvuso ānanda, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo’ti? Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ: ‘bhavo kho, āvuso, upādānanidāno upādānasamudayo upādānajātiko upādānappabhavo’ti. Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ.
Suppose they were to ask me: ‘What is the source of continued existence?’ I’d answer like this: ‘Grasping is the source of continued existence.’ That’s how I’d answer such a question.
“‘Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con như vầy: “Còn hữu, này hiền giả Ānanda, có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm nguồn sinh, có cái gì làm phát sinh?” Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vầy: “Này các hiền giả, hữu có thủ làm nhân duyên, có thủ làm tập khởi, có thủ làm nguồn sinh, có thủ làm phát sinh.” Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.
Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ—upādānaṁ panāvuso …pe… taṇhā panāvuso …pe… vedanā panāvuso …pe… sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ: ‘phasso panāvuso ānanda, kiṁnidāno kiṁsamudayo kiṁjātiko kiṁpabhavo’ti? Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ: ‘phasso kho, āvuso, saḷāyatananidāno saḷāyatanasamudayo saḷāyatanajātiko saḷāyatanappabhavo’ti. ‘Channaṁ tveva, āvuso, phassāyatanānaṁ asesavirāganirodhā phassanirodho; phassanirodhā vedanānirodho; vedanānirodhā taṇhānirodho; taṇhānirodhā upādānanirodho; upādānanirodhā bhavanirodho; bhavanirodhā jātinirodho; jātinirodhā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’ti. Evaṁ puṭṭhohaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
Catutthaṁ.
Suppose they were to ask me: ‘What is the source of grasping?’ … craving … feeling … Suppose they were to ask me: ‘What is the source of contact?’ I’d answer like this: ‘The six sense fields are the source, origin, birthplace, and inception of contact.’ ‘When the six fields of contact fade away and cease with no residue left behind, contact ceases. When contact ceases, feeling ceases. When feeling ceases, craving ceases. When craving ceases, grasping ceases. When grasping ceases, continued existence ceases. When continued existence ceases, rebirth ceases. When rebirth ceases, old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress cease. That is how this entire mass of suffering ceases.’ That’s how I’d answer such a question.”
“‘Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Còn thủ, này hiền giả Ānanda…” v.v… “Còn ái, này hiền giả…” v.v… “Còn thọ, này hiền giả…” v.v… Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con như vầy: “Còn xúc, này hiền giả Ānanda, có cái gì làm nhân duyên, có cái gì làm tập khởi, có cái gì làm nguồn sinh, có cái gì làm phát sinh?” Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vầy: “Này các hiền giả, xúc có sáu xứ làm nhân duyên, có sáu xứ làm tập khởi, có sáu xứ làm nguồn sinh, có sáu xứ làm phát sinh.” “Này các hiền giả, do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn của sáu xứ xúc này mà xúc diệt; do xúc diệt nên thọ diệt; do thọ diệt nên ái diệt; do ái diệt nên thủ diệt; do thủ diệt nên hữu diệt; do hữu diệt nên sinh diệt; do sinh diệt nên già-chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đều diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.” Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.’”