- Saṁyutta Nikāya 12.23
- 3. Dasabalavagga
Bản dịch
SN 12.23 — Kinh Upanisa
Upanisasutta
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, đối với người biết, này các Tỷ-kheo, đối với người thấy, Ta nói các lậu hoặc được đoạn diệt, không phải đối với người không biết, không phải đối với người không thấy.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, như thế nào đối với người biết, đối với người thấy, các lậu hoặc được đoạn diệt? Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ … Ðây là tưởng … Ðây là hành … Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với người biết, như vậy đối với người thấy, các lậu hoặc được đoạn diệt.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, trong đoạn diệt ấy, trí về đoạn diệt, Ta nói rằng trí ấy có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, duyên của trí về đoạn diệt là gì? Giải thoát là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng giải thoát có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, duyên của giải thoát là gì? Ly tham là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng ly tham có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 7 Và này các Tỷ-kheo, duyên của ly tham là gì? Yếm ly là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng yếm ly có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 8 Và này các Tỷ-kheo, duyên của yếm ly là gì? Tri kiến như chân là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tri kiến như chân có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 9 Và này các Tỷ-kheo, duyên của tri kiến như chân là gì? Ðịnh là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng định có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 10 Và này các Tỷ-kheo, duyên của định là gì? Lạc là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lạc có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, duyên của lạc là gì? Khinh an là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng khinh an có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 12 Và này các Tỷ-kheo, duyên của khinh an là gì? Hỷ là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hỷ có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 13 Và này các Tỷ-kheo, duyên của hỷ là gì? Hân hoan là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hân hoan có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 14 Và này các Tỷ-kheo, duyên của hân hoan là gì? Lòng tin là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng lòng tin có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 15 Và này các Tỷ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 16 Và này các Tỷ-kheo, duyên của khổ là gì? Sanh là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng sanh có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 17 Và này các Tỷ-kheo, duyên của sanh là gì? Hữu là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hữu có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 18 Và này các Tỷ-kheo, duyên của hữu là gì? Thủ là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng thủ có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 19 Và này các Tỷ-kheo, duyên của thủ là gì? Ái là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng ái có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 20-25. Và này các Tỷ-kheo, duyên của ái là gì? Thọ là câu trả lời … (như trên) …
Xúc là câu trả lời …
Sáu xứ là câu trả lời …
Danh sắc là câu trả lời …
Thức là câu trả lời …
Hành là câu trả lời. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng hành có duyên, không phải không có duyên.
Vi-n 26 Và này các Tỷ-kheo, duyên của hành là gì? Vô minh là câu trả lời.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt.
Vi-n 27 Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đỉnh núi trời mưa nặng hột và nước chảy theo triền thấp, tràn đầy hang núi, khe núi, thung lũng. Khi các hang núi, khe núi, thung lũng được tràn đầy, thời ao nhỏ được tràn đầy; ao nhỏ được tràn đầy thời ao lớn được tràn đầy; ao lớn tràn đầy thời sông nhỏ được tràn đầy; sông nhỏ được tràn đầy thời sông lớn được tràn đầy; sông lớn được tràn đầy thời biển lớn, đại dương được tràn đầy.
Vi-n 28 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.23
- 3. The Ten Powers
Vital Conditions
3. Kinh Upanisa
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Jānato ahaṁ, bhikkhave, passato āsavānaṁ khayaṁ vadāmi, no ajānato no apassato. Kiñca, bhikkhave, jānato kiṁ passato āsavānaṁ khayo hoti? Iti rūpaṁ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo, iti vedanā …pe… iti saññā … iti saṅkhārā … iti viññāṇaṁ iti viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamoti. Evaṁ kho, bhikkhave, jānato evaṁ passato āsavānaṁ khayo hoti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, I say that the ending of defilements is for one who knows and sees, not for one who does not know or see. For one who knows and sees what? ‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling … Such is perception … Such are choices … Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’ The ending of the defilements is for one who knows and sees this.
23. Trú ở Sāvatthī... ‘Này các Tỳ khưu, Ta nói về sự đoạn tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy; không phải cho người không biết, không phải cho người không thấy. Này các Tỳ khưu, biết gì, thấy gì mà có sự đoạn tận các lậu hoặc? ‘Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc. Đây là thọ... đây là tưởng... đây là các hành... đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức.’ Này các Tỳ khưu, biết như vậy, thấy như vậy thì có sự đoạn tận các lậu hoặc.’
Yampissa taṁ, bhikkhave, khayasmiṁ khaye ñāṇaṁ, tampi saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, khaye ñāṇassa upanisā? ‘Vimuttī’tissa vacanīyaṁ. Vimuttimpāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, vimuttiyā upanisā? ‘Virāgo’tissa vacanīyaṁ. Virāgampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, virāgassa upanisā? ‘Nibbidā’tissa vacanīyaṁ. Nibbidampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, nibbidāya upanisā? ‘Yathābhūtañāṇadassanan’tissa vacanīyaṁ. Yathābhūtañāṇadassanampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, yathābhūtañāṇadassanassa upanisā? ‘Samādhī’tissa vacanīyaṁ. Samādhimpāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ.
I say that this knowledge of ending has a vital condition, it doesn’t lack a vital condition. And what is it? You should say: ‘Freedom.’ I say that freedom has a vital condition, it doesn’t lack a vital condition. And what is it? You should say: ‘Dispassion.’ I say that dispassion has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Disillusionment.’ I say that disillusionment has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Truly knowing and seeing.’ I say that truly knowing and seeing has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Immersion.’ I say that immersion has a vital condition.
“Này các Tỳ khưu, trí về sự đoạn tận trong sự đoạn tận ấy, Ta nói rằng trí ấy cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của trí về sự đoạn tận là gì? Phải nói rằng: ‘Là giải thoát’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng giải thoát cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của giải thoát là gì? Phải nói rằng: ‘Là ly tham’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng ly tham cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của ly tham là gì? Phải nói rằng: ‘Là yếm ly’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng yếm ly cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của yếm ly là gì? Phải nói rằng: ‘Là như thật tri kiến’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng như thật tri kiến cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của như thật tri kiến là gì? Phải nói rằng: ‘Là định’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng định cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên.
Kā ca, bhikkhave, samādhissa upanisā? ‘Sukhan’tissa vacanīyaṁ. Sukhampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, sukhassa upanisā? ‘Passaddhī’tissa vacanīyaṁ. Passaddhimpāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, passaddhiyā upanisā? ‘Pītī’tissa vacanīyaṁ. Pītimpāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, pītiyā upanisā? ‘Pāmojjan’tissa vacanīyaṁ. Pāmojjampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, pāmojjassa upanisā? ‘Saddhā’tissa vacanīyaṁ. Saddhampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ.
And what is it? You should say: ‘Bliss.’ I say that bliss has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Tranquility.’ I say that tranquility has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Rapture.’ I say that rapture has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Joy.’ I say that joy has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Faith.’ I say that faith has a vital condition.
“Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của định là gì? Phải nói rằng: ‘Là lạc’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng lạc cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của lạc là gì? Phải nói rằng: ‘Là khinh an’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng khinh an cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của khinh an là gì? Phải nói rằng: ‘Là hỷ’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng hỷ cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của hỷ là gì? Phải nói rằng: ‘Là hoan hỷ’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng hoan hỷ cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của hoan hỷ là gì? Phải nói rằng: ‘Là tín’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng tín cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên.
Kā ca, bhikkhave, saddhāya upanisā? ‘Dukkhan’tissa vacanīyaṁ. Dukkhampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, dukkhassa upanisā? ‘Jātī’tissa vacanīyaṁ. Jātimpāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, jātiyā upanisā? ‘Bhavo’tissa vacanīyaṁ. Bhavampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, bhavassa upanisā? ‘Upādānan’tissa vacanīyaṁ. Upādānampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ. Kā ca, bhikkhave, upādānassa upanisā? ‘Taṇhā’tissa vacanīyaṁ. Taṇhampāhaṁ, bhikkhave, saupanisaṁ vadāmi, no anupanisaṁ.
And what is it? You should say: ‘Suffering.’ I say that suffering has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Rebirth.’ I say that rebirth has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Continued existence.’ I say that continued existence has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Grasping.’ I say that grasping has a vital condition. And what is it? You should say: ‘Craving.’ I say that craving has a vital condition.
“Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của tín là gì? Phải nói rằng: ‘Là khổ’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng khổ cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của khổ là gì? Phải nói rằng: ‘Là sanh’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng sanh cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của sanh là gì? Phải nói rằng: ‘Là hữu’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng hữu cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của hữu là gì? Phải nói rằng: ‘Là thủ’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng thủ cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của thủ là gì? Phải nói rằng: ‘Là ái’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng ái cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên.
Kā ca, bhikkhave, taṇhāya upanisā? ‘Vedanā’tissa vacanīyaṁ …pe… ‘phasso’tissa vacanīyaṁ … ‘saḷāyatanan’tissa vacanīyaṁ … ‘nāmarūpan’tissa vacanīyaṁ … ‘viññāṇan’tissa vacanīyaṁ … ‘saṅkhārā’tissa vacanīyaṁ. Saṅkhārepāhaṁ, bhikkhave, saupanise vadāmi, no anupanise. Kā ca, bhikkhave, saṅkhārānaṁ upanisā? ‘Avijjā’tissa vacanīyaṁ.
And what is it? You should say: ‘Feeling.’ … You should say: ‘Contact.’ … You should say: ‘The six sense fields.’ … You should say: ‘Name and form.’ … You should say: ‘Consciousness.’ … You should say: ‘Choices.’ … I say that choices have a vital condition, they don’t lack a vital condition. And what is the vital condition for choices? You should say: ‘Ignorance.’
“Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của ái là gì? Phải nói rằng: ‘Là thọ’... phải nói rằng: ‘là xúc’... phải nói rằng: ‘là sáu xứ’... phải nói rằng: ‘là danh sắc’... phải nói rằng: ‘là thức’... phải nói rằng: ‘là các hành’. Này các Tỳ khưu, Ta nói rằng các hành cũng có nhân duyên, không phải không có nhân duyên. Và này các Tỳ khưu, nhân duyên của các hành là gì? Phải nói rằng: ‘Là vô minh’.
Iti kho, bhikkhave, avijjūpanisā saṅkhārā, saṅkhārūpanisaṁ viññāṇaṁ, viññāṇūpanisaṁ nāmarūpaṁ, nāmarūpūpanisaṁ saḷāyatanaṁ, saḷāyatanūpaniso phasso, phassūpanisā vedanā, vedanūpanisā taṇhā, taṇhūpanisaṁ upādānaṁ, upādānūpaniso bhavo, bhavūpanisā jāti, jātūpanisaṁ dukkhaṁ, dukkhūpanisā saddhā, saddhūpanisaṁ pāmojjaṁ, pāmojjūpanisā pīti, pītūpanisā passaddhi, passaddhūpanisaṁ sukhaṁ, sukhūpaniso samādhi, samādhūpanisaṁ yathābhūtañāṇadassanaṁ, yathābhūtañāṇadassanūpanisā nibbidā, nibbidūpaniso virāgo, virāgūpanisā vimutti, vimuttūpanisaṁ khaye ñāṇaṁ.
So, mendicants: ignorance is the vital condition for choices. Choices are the vital condition for consciousness. Consciousness is the vital condition for name and form. Name and form are the vital conditions for the six sense fields. The six sense fields are the vital conditions for contact. Contact is the vital condition for feeling. Feeling is the vital condition for craving. Craving is the vital condition for grasping. Grasping is the vital condition for continued existence. Continued existence is the vital condition for rebirth. Rebirth is the vital condition for suffering. Suffering is the vital condition for faith. Faith is the vital condition for joy. Joy is the vital condition for rapture. Rapture is the vital condition for tranquility. Tranquility is the vital condition for bliss. Bliss is the vital condition for immersion. Immersion is the vital condition for truly knowing and seeing. Truly knowing and seeing is the vital condition for disillusionment. Disillusionment is the vital condition for dispassion. Dispassion is the vital condition for freedom. Freedom is the vital condition for the knowledge of ending.
“Như vậy, này các Tỳ khưu, các hành có vô minh làm nhân duyên, thức có các hành làm nhân duyên, danh sắc có thức làm nhân duyên, sáu xứ có danh sắc làm nhân duyên, xúc có sáu xứ làm nhân duyên, thọ có xúc làm nhân duyên, ái có thọ làm nhân duyên, thủ có ái làm nhân duyên, hữu có thủ làm nhân duyên, sanh có hữu làm nhân duyên, khổ có sanh làm nhân duyên, tín có khổ làm nhân duyên, hoan hỷ có tín làm nhân duyên, hỷ có hoan hỷ làm nhân duyên, khinh an có hỷ làm nhân duyên, lạc có khinh an làm nhân duyên, định có lạc làm nhân duyên, như thật tri kiến có định làm nhân duyên, yếm ly có như thật tri kiến làm nhân duyên, ly tham có yếm ly làm nhân duyên, giải thoát có ly tham làm nhân duyên, trí về sự đoạn tận có giải thoát làm nhân duyên.
Seyyathāpi, bhikkhave, uparipabbate thullaphusitake deve vassante taṁ udakaṁ yathāninnaṁ pavattamānaṁ pabbatakandarapadarasākhā paripūreti. Pabbatakandarapadarasākhāparipūrā kusobbhe paripūrenti. Kusobbhā paripūrā mahāsobbhe paripūrenti. Mahāsobbhā paripūrā kunnadiyo paripūrenti. Kunnadiyo paripūrā mahānadiyo paripūrenti. Mahānadiyo paripūrā mahāsamuddaṁ paripūrenti.
It’s like when the heavens rain heavily on a mountain top, and the water flows downhill to fill the hollows, crevices, and creeks. As they become full, they fill up the pools. The pools fill up the lakes, the lakes fill up the streams, and the streams fill up the rivers. And as the rivers become full, they fill up the ocean.
“Này các Tỳ khưu, ví như khi trời mưa hạt lớn trên đỉnh núi, nước ấy chảy xuống chỗ trũng làm đầy các hang núi, khe núi, và các dòng suối. Khi các hang núi, khe núi, và các dòng suối được làm đầy, chúng làm đầy các ao nhỏ. Khi các ao nhỏ được làm đầy, chúng làm đầy các hồ lớn. Khi các hồ lớn được làm đầy, chúng làm đầy các sông nhỏ. Khi các sông nhỏ được làm đầy, chúng làm đầy các sông lớn. Khi các sông lớn được làm đầy, chúng làm đầy biển cả.
Evameva kho, bhikkhave, avijjūpanisā saṅkhārā, saṅkhārūpanisaṁ viññāṇaṁ, viññāṇūpanisaṁ nāmarūpaṁ, nāmarūpūpanisaṁ saḷāyatanaṁ, saḷāyatanūpaniso phasso, phassūpanisā vedanā, vedanūpanisā taṇhā, taṇhūpanisaṁ upādānaṁ, upādānūpaniso bhavo, bhavūpanisā jāti, jātūpanisaṁ dukkhaṁ, dukkhūpanisā saddhā, saddhūpanisaṁ pāmojjaṁ, pāmojjūpanisā pīti, pītūpanisā passaddhi, passaddhūpanisaṁ sukhaṁ, sukhūpaniso samādhi, samādhūpanisaṁ yathābhūtañāṇadassanaṁ, yathābhūtañāṇadassanūpanisā nibbidā, nibbidūpaniso virāgo, virāgūpanisā vimutti, vimuttūpanisaṁ khaye ñāṇan”ti.
Tatiyaṁ.
In the same way, ignorance is the vital condition for choices. … Freedom is the vital condition for the knowledge of ending.”
“Cũng vậy, này các Tỳ khưu, các hành có vô minh làm nhân duyên, thức có các hành làm nhân duyên, danh sắc có thức làm nhân duyên, sáu xứ có danh sắc làm nhân duyên, xúc có sáu xứ làm nhân duyên, thọ có xúc làm nhân duyên, ái có thọ làm nhân duyên, thủ có ái làm nhân duyên, hữu có thủ làm nhân duyên, sanh có hữu làm nhân duyên, khổ có sanh làm nhân duyên, tín có khổ làm nhân duyên, hoan hỷ có tín làm nhân duyên, hỷ có hoan hỷ làm nhân duyên, khinh an có hỷ làm nhân duyên, lạc có khinh an làm nhân duyên, định có lạc làm nhân duyên, như thật tri kiến có định làm nhân duyên, yếm ly có như thật tri kiến làm nhân duyên, ly tham có yếm ly làm nhân duyên, giải thoát có ly tham làm nhân duyên, trí về sự đoạn tận có giải thoát làm nhân duyên.”