- Saṁyutta Nikāya 12.22
- 3. Dasabalavagga
Bản dịch
SN 12.22 — Kinh Mười Lực Thứ Hai
Dutiyadasabalasutta
Vi-n 1 .. Trú Tại Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Như Lai đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 5 Như vậy, này các Tỷ-kheo, Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, khai thị, hiển lộ, các buộc ràng được cắt đoạn, thật là đủ cho Thiện nam tử do lòng tin xuất gia có thể bắt đầu tinh tấn (hành trì và nguyện). Như vậy, này các Tỷ-kheo, với Pháp được Ta khéo thuyết, hiển thị, hiển lộ các buộc ràng được cắt đoạn. Chắc chắn dầu chỉ còn lại da, gân và xương trên thân, dầu thịt, máu trở thành khô cạn, mong rằng tinh tấn lực, sẽ được kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ trượng phu lực, nhờ trượng phu tinh tấn, nhờ trượng phu cần dõng.
Vi-n 7 Khổ thay, này các Tỷ-kheo, là người sống biếng nhác, dính đầy các pháp ác, bất thiện và mục đích lớn bị suy giảm! An lạc thay, này các Tỷ-kheo, là người sống tinh cần, tinh tấn, viễn ly các ác, bất thiện pháp, và mục đích lớn được viên mãn!
Vi-n 8 Này các Tỷ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỷ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng. Ðáng được tán thán, này các Tỷ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.
Vi-n 9 Có vậy, sự xuất gia này của chúng ta sẽ không phải trống không, có kết quả, có thành tích (Sa udrayà). Và những vật dụng chúng ta thọ dụng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc trị bệnh, dầu cho những thứ này là khiêm tốn (vokàrà), đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn.
Vi-n 10 Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập. Này các Tỷ-kheo, thấy được tự lợi là vừa đủ để tinh tấn không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, khi thấy lợi tha là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật. Hay này các Tỷ-kheo, thấy lợi cả hai, là vừa đủ để tinh tấn, không phóng dật.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.22
- 3. The Ten Powers
The Ten Powers (2nd)
2. Kinh Mười Lực Thứ Hai
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dasabalasamannāgato, bhikkhave, tathāgato catūhi ca vesārajjehi samannāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti:
‘iti rūpaṁ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo, iti vedanā iti vedanāya samudayo iti vedanāya atthaṅgamo, iti saññā iti saññāya samudayo iti saññāya atthaṅgamo, iti saṅkhārā iti saṅkhārānaṁ samudayo iti saṅkhārānaṁ atthaṅgamo, iti viññāṇaṁ iti viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamo.
Iti imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati; imasmiṁ asati idaṁ na hoti imassa nirodhā idaṁ nirujjhati.
Yadidaṁ avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti’.
At Sāvatthī.
“Mendicants, a Realized One has ten powers and four kinds of self-assurance. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling, such is the origin of feeling, such is the disappearance of feeling. Such is perception, such is the origin of perception, such is the disappearance of perception. Such are choices, such is the origin of choices, such is the disappearance of choices. Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.
So, when this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. When this doesn’t exist, this doesn’t come to be; due to the cessation of this, this ceases. That is:
Ignorance is a requirement for choices.
Choices are a requirement for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.
22. Trú ở Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc thành tựu mười lực, thành tựu bốn vô sở úy, tự nhận ở địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng: ‘Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc. Đây là thọ, đây là sự sanh khởi của thọ, đây là sự đoạn diệt của thọ. Đây là tưởng, đây là sự sanh khởi của tưởng, đây là sự đoạn diệt của tưởng. Đây là các hành, đây là sự sanh khởi của các hành, đây là sự đoạn diệt của các hành. Đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức. Như vầy: Khi cái này có, cái kia có; do sự sanh khởi của cái này, cái kia sanh khởi; khi cái này không có, cái kia không có; do sự đoạn diệt của cái này, cái kia đoạn diệt. Tức là, do duyên vô minh, các hành sanh khởi; do duyên các hành, thức sanh khởi... như vậy là sự sanh khởi của toàn bộ khối khổ này. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn của chính vô minh, các hành diệt; do các hành diệt, thức diệt... như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.’
Evaṁ svākkhāto, bhikkhave, mayā dhammo uttāno vivaṭo pakāsito chinnapilotiko. Evaṁ svākkhāte kho, bhikkhave, mayā dhamme uttāne vivaṭe pakāsite chinnapilotike alameva saddhāpabbajitena kulaputtena vīriyaṁ ārabhituṁ: ‘kāmaṁ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatu, sarīre upassussatu maṁsalohitaṁ. Yaṁ taṁ purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena pattabbaṁ, na taṁ apāpuṇitvā vīriyassa saṇṭhānaṁ bhavissatī’ti.
The teaching well-explained thus by me is clarified, revealed, illuminated, and stripped of patchwork. In this teaching thus well-explained, it is quite enough for a gentleman who has gone forth out of faith to rouse up energy. ‘Gladly, let only skin, sinews, and tendons remain! Let the flesh and blood waste away in my body! I will not stop trying until I have achieved what is possible by human strength, energy, and vigor.’
‘Này các Tỳ khưu, Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, rộng mở, hiển thị, không có vải vụn vá víu. Này các Tỳ khưu, khi Pháp đã được Ta khéo thuyết giảng như vậy, rõ ràng, rộng mở, hiển thị, không có vải vụn vá víu, thiện nam tử đã xuất gia vì đức tin thật xứng đáng để khởi sự tinh tấn rằng: ‘Dầu cho chỉ còn lại da, gân, và xương; thịt và máu trong thân hãy khô cạn đi. Điều gì có thể đạt được bằng sức lực của người nam, bằng sự tinh tấn của người nam, bằng sự nỗ lực của người nam, nếu chưa đạt được điều ấy, sự tinh tấn sẽ không dừng lại.’’
Dukkhaṁ, bhikkhave, kusīto viharati vokiṇṇo pāpakehi akusalehi dhammehi, mahantañca sadatthaṁ parihāpeti. Āraddhavīriyo ca kho, bhikkhave, sukhaṁ viharati pavivitto pāpakehi akusalehi dhammehi, mahantañca sadatthaṁ paripūreti.
Na, bhikkhave, hīnena aggassa patti hoti. Aggena ca kho, bhikkhave, aggassa patti hoti. Maṇḍapeyyamidaṁ, bhikkhave, brahmacariyaṁ, satthā sammukhībhūto.
Tasmātiha, bhikkhave, vīriyaṁ ārabhatha appattassa pattiyā, anadhigatassa adhigamāya, asacchikatassa sacchikiriyāya. ‘Evaṁ no ayaṁ amhākaṁ pabbajjā avañjhā bhavissati saphalā saudrayā. Yesañca mayaṁ paribhuñjāma cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ tesaṁ te kārā amhesu mahapphalā bhavissanti mahānisaṁsā’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Attatthaṁ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetuṁ; paratthaṁ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetuṁ; ubhayatthaṁ vā hi, bhikkhave, sampassamānena alameva appamādena sampādetun”ti.
Dutiyaṁ.
A lazy person lives in suffering, mixed up with bad, unskillful qualities, neglecting their heart’s great goal. But an energetic person lives happily, secluded from bad, unskillful qualities, fulfilling their heart’s great goal.
The best isn’t reached by the worst. The best is reached by the best. This spiritual life is the cream, mendicants, and the Teacher is before you.
So you should rouse up energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized, thinking: ‘In this way our going forth will not be barren, but will be fruitful and fertile. And the services of those whose robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick we enjoy shall be very fruitful and beneficial for them.’ That’s how you should train.
Considering what is good for yourself, mendicants, is quite enough for you to persist with diligence. Considering what is good for others is quite enough for you to persist with diligence. Considering what is good for both is quite enough for you to persist with diligence.”
‘Này các Tỳ khưu, người lười biếng sống khổ sở, bị xen tạp với các pháp ác, bất thiện, và làm tổn thất lợi ích lớn lao của tự thân. Còn này các Tỳ khưu, người đã khởi sự tinh tấn sống an lạc, xa lìa các pháp ác, bất thiện, và làm viên mãn lợi ích lớn lao của tự thân. Này các Tỳ khưu, không có sự chứng đắc tối thượng bằng (sự tinh tấn) thấp kém. Này các Tỳ khưu, có sự chứng đắc tối thượng bằng (sự tinh tấn) tối thượng. Này các Tỳ khưu, phạm hạnh này là phần tinh túy đáng được uống, Bậc Đạo Sư đang hiện diện. Do đó, này các Tỳ khưu, hãy khởi sự tinh tấn để đạt được điều chưa đạt, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ, để thực chứng điều chưa thực chứng. ‘Như vậy, sự xuất gia này của chúng ta sẽ không vô ích, sẽ có kết quả, có thành tựu. Và những người mà chúng ta thọ dụng y phục, vật thực khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những sự cúng dường ấy của họ đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn.’ Này các Tỳ khưu, các ngươi phải học tập như vậy. Này các Tỳ khưu, người thấy rõ lợi ích của tự thân, thật xứng đáng để thành tựu với sự không dể duôi; hoặc này các Tỳ khưu, người thấy rõ lợi ích của người khác, thật xứng đáng để thành tựu với sự không dể duôi; hoặc này các Tỳ khưu, người thấy rõ lợi ích của cả hai, thật xứng đáng để thành tựu với sự không dể duôi.’ (Kinh) thứ hai.