- Saṁyutta Nikāya 12.21
- 3. Dasabalavagga
Bản dịch
SN 12.21 — Kinh Mười Lực
Dasabalasutta
Vi-n 1 .. Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, Như Lai đầy đủ mười lực, đầy đủ bốn vô sở úy, tự nhận vị trí Ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử giữa hội chúng, chuyển Pháp luân và nói rằng: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc đoạn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập khởi, đây là thọ đoạn diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập khởi, đây là tưởng đoạn diệt. Ðây là hành, đây là hành tập khởi, đây là hành đoạn diệt. Ðây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức đoạn diệt”.
Như vậy do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt.
Vi-n 3 Nghĩa là vô minh duyên hành, hành duyên thức … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
Vi-n 4 Do ly tham, đoạn diệt hoàn toàn vô minh nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.21
- 3. The Ten Powers
The Ten Powers
1. Kinh Mười Lực
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Dasabalasamannāgato, bhikkhave, tathāgato catūhi ca vesārajjehi samannāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti—
iti rūpaṁ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo, iti vedanā iti vedanāya samudayo iti vedanāya atthaṅgamo, iti saññā iti saññāya samudayo iti saññāya atthaṅgamo, iti saṅkhārā iti saṅkhārānaṁ samudayo iti saṅkhārānaṁ atthaṅgamo, iti viññāṇaṁ iti viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamo.
Iti imasmiṁ sati idaṁ hoti, imassuppādā idaṁ uppajjati. Imasmiṁ asati idaṁ na hoti, imassa nirodhā idaṁ nirujjhati.
Yadidaṁ avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Paṭhamaṁ.
At Sāvatthī.
“Mendicants, a Realized One has ten powers and four kinds of self-assurance. With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.
Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form. Such is feeling, such is the origin of feeling, such is the disappearance of feeling. Such is perception, such is the origin of perception, such is the disappearance of perception. Such are choices, such is the origin of choices, such is the disappearance of choices. Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.
So, when this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. When this doesn’t exist, this doesn’t come to be; due to the cessation of this, this ceases. That is:
Ignorance is a requirement for choices.
Choices are a requirement for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases no residue left behind, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.”
21. Trú ở Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, Như Lai, bậc thành tựu mười lực, thành tựu bốn vô sở úy, tự nhận ở địa vị tối thượng, rống tiếng rống sư tử giữa các hội chúng, chuyển bánh xe Pháp cao thượng: ‘Đây là sắc, đây là sự sanh khởi của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc. Đây là thọ, đây là sự sanh khởi của thọ, đây là sự đoạn diệt của thọ. Đây là tưởng, đây là sự sanh khởi của tưởng, đây là sự đoạn diệt của tưởng. Đây là các hành, đây là sự sanh khởi của các hành, đây là sự đoạn diệt của các hành. Đây là thức, đây là sự sanh khởi của thức, đây là sự đoạn diệt của thức. Như vầy: Khi cái này có, cái kia có; do sự sanh khởi của cái này, cái kia sanh khởi. Khi cái này không có, cái kia không có; do sự đoạn diệt của cái này, cái kia đoạn diệt. Tức là, do duyên vô minh, các hành sanh khởi; do duyên các hành, thức sanh khởi... như vậy là sự sanh khởi của toàn bộ khối khổ này. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn của chính vô minh, các hành diệt; do các hành diệt, thức diệt... như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.’ (Kinh) thứ nhất.