- Saṁyutta Nikāya 12.17
- 2. Āhāravagga
Acelakassapasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Acelakassapasutta
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Vi-n 2 Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Rājagaha để khất thực.
Vi-n 3 Lõa thể Kassapa thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Sau khi thấy, lõa thể Kassapa đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên.
Vi-n 4 Ðứng một bên, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
—Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.
—Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.
Vi-n 5 Lần thứ hai, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
—Chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama về một vấn đề. Nếu Tôn giả Gotama cho phép, chúng tôi sẽ hỏi câu hỏi.
—Này Kassapa, nay không phải thời để hỏi. Chúng ta đã vào trong làng.
Vi-n 6 Lần thứ ba, lõa thể Kassapa … (như trên) … Chúng ta đã vào trong làng.
Khi được nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
—Nhưng không phải chúng tôi muốn hỏi Tôn giả Gotama nhiều chuyện.
—Vậy hãy hỏi đi, này Kassapa, như Ông muốn.
Vi-n 7 —Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do tự mình làm ra?
Thế Tôn đáp:
—Không phải vậy, này Kassapa.
Vi-n 8 —Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
—Không phải vậy, này Kassapa.
Vi-n 9 —Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ do mình làm ra và do người khác làm ra?
Thế Tôn đáp:
—Không phải vậy, này Kassapa.
Vi-n 10 —Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?
Thế Tôn đáp:
—Không phải vậy, này Kassapa.
Vi-n 11 —Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?
—Này Kassapa, không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa.
Vi-n 12 —Như vậy, Tôn giả Gotama không biết, không thấy khổ.
—Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ.
Vi-n 13 —Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, khổ có phải tự mình làm ra”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, khổ có phải do người khác làm ra?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, khổ có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, có phải khổ không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, khổ do tự nhiên sanh?”, Ngài trả lời: “Không phải vậy, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Tôn giả Gotama, có phải khổ không có?”, Ngài trả lời: “Không phải khổ không có. Khổ có, này Kassapa”. Ðược hỏi: “Như vậy Tôn giả Gotama, không biết, không thấy khổ?”, Ngài trả lời: “Này Kassapa, không phải Ta không biết, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta biết khổ, này Kassapa, Ta thấy khổ”. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên cho con về khổ, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết cho con về khổ.
Vi-n 14 —Một người làm và chính người làm ấy cảm thọ (kết quả). Này Kassapa, như Ông gọi ban đầu “khổ do tự mình làm ra”, như vậy có nghĩa là thường kiến.
Một người khác làm và một người khác cảm thọ. Này Kassapa, như vậy đối với người bị cảm thọ, được xảy ra như: “Khổ do người khác làm ra”, như vậy có nghĩa là đoạn kiến.
Vi-n 15 Này Kassapa, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường trung đạo. Vô minh duyên hành, hành duyên thức … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham và đoạn diệt hoàn toàn vô minh, các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Vi-n 16 Khi được nghe nói vậy, lõa thể Kassapa bạch Thế Tôn:
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Bạch Thế Tôn, con xin xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.
Vi-n 17 —Này Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, nếu chúng Tăng đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.
Vi-n 18 —Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú, chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm nếu chúng Tăng đồng ý, mong chúng Tăng cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.
Vi-n 19 Và lõa thể Kassapa được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới.
Vi-n 20 Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến; đó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong đời sống hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị này chứng tri: “Sanh đã tận. Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.
Vi-n 21 Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
7. Kinh Acela Kassapa
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya rājagahaṁ piṇḍāya pāvisi. Addasā kho acelo kassapo bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho acelo kassapo bhagavantaṁ etadavoca:
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Rājagaha for alms. The naked ascetic Kassapa saw the Buddha coming off in the distance. He went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he stood to one side and said to the Buddha,
17. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong Trúc Lâm, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, vào buổi sáng, Thế Tôn đắp y, mang bát và y, đi vào thành Rājagaha để khất thực. Du sĩ lõa thể Kassapa thấy Thế Tôn từ xa đi đến. Thấy vậy, ông đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, ông cùng Thế Tôn nói lên những lời chào hỏi thân thiện. Sau khi trao đổi những lời thăm hỏi đáng ghi nhớ, ông đứng sang một bên. Đứng một bên, du sĩ lõa thể Kassapa bạch với Thế Tôn rằng: "Chúng tôi muốn hỏi tôn giả Gotama về một vài vấn đề, nếu tôn giả Gotama cho phép chúng tôi cơ hội để giải đáp câu hỏi."
“puccheyyāma mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ kañcideva desaṁ, sace no bhavaṁ gotamo okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti.
“Akālo kho tāva, kassapa, pañhassa; antaragharaṁ paviṭṭhamhā”ti.
Dutiyampi kho acelo kassapo bhagavantaṁ etadavoca: “puccheyyāma mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ kañcideva desaṁ, sace no bhavaṁ gotamo okāsaṁ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti. “Akālo kho tāva, kassapa, pañhassa; antaragharaṁ paviṭṭhamhā”ti. Tatiyampi kho acelo kassapo …pe… antaragharaṁ paviṭṭhamhāti. Evaṁ vutte, acelo kassapo bhagavantaṁ etadavoca:
“na kho pana mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ bahudeva pucchitukāmā”ti.
“Puccha, kassapa, yadākaṅkhasī”ti.
“I’d like to ask the worthy Gotama about a certain point, if you’d take the time to answer.”
“Kassapa, it’s the wrong time for questions. We’ve entered an inhabited area.”
A second time, and a third time, Kassapa spoke to the Buddha and the Buddha replied. When this was said, Kassapa said to the Buddha,
“I don’t want to ask much.”
“Ask what you wish, Kassapa.”
"'Này Kassapa, chưa phải lúc để hỏi; chúng ta đang đi vào trong làng.' Lần thứ hai, du sĩ lõa thể Kassapa lại bạch với Thế Tôn: 'Chúng tôi muốn hỏi tôn giả Gotama về một vài vấn đề, nếu tôn giả Gotama cho phép chúng tôi cơ hội để giải đáp câu hỏi.' 'Này Kassapa, chưa phải lúc để hỏi; chúng ta đang đi vào trong làng.' Lần thứ ba, du sĩ lõa thể Kassapa... chúng ta đang đi vào trong làng. Khi được nói như vậy, du sĩ lõa thể Kassapa bạch với Thế Tôn: 'Chúng tôi thật sự không muốn hỏi tôn giả Gotama nhiều đâu.' 'Này Kassapa, hãy hỏi điều ông muốn hỏi.'"
“Kiṁ nu kho, bho gotama, ‘sayaṅkataṁ dukkhan’ti?
‘Mā hevaṁ, kassapā’ti bhagavā avoca.
‘Kiṁ pana, bho gotama, paraṅkataṁ dukkhan’ti?
‘Mā hevaṁ, kassapā’ti bhagavā avoca.
‘Kiṁ nu kho, bho gotama, sayaṅkatañca paraṅkatañca dukkhan’ti?
‘Mā hevaṁ, kassapā’ti bhagavā avoca.
‘Kiṁ pana, bho gotama, asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhan’ti?
‘Mā hevaṁ, kassapā’ti bhagavā avoca.
‘Kiṁ nu kho, bho gotama, natthi dukkhan’ti?
‘Na kho, kassapa, natthi dukkhaṁ. Atthi kho, kassapa, dukkhan’ti.
‘Tena hi bhavaṁ gotamo dukkhaṁ na jānāti, na passatī’ti.
‘Na khvāhaṁ, kassapa, dukkhaṁ na jānāmi, na passāmi. Jānāmi khvāhaṁ, kassapa, dukkhaṁ; passāmi khvāhaṁ, kassapa, dukkhan’”ti.
“Well, worthy Gotama, is suffering made by oneself?”
“Not so, Kassapa,” said the Buddha.
“Then is suffering made by another?”
“Not so, Kassapa,” said the Buddha.
“Well, is suffering made by both oneself and another?”
“Not so, Kassapa,” said the Buddha.
“Then does suffering arise anomalously, not made by oneself or another?”
“Not so, Kassapa,” said the Buddha.
“Well, is there no such thing as suffering?”
“It’s not that there’s no such thing as suffering. Suffering is real.”
“Then does the worthy Gotama not know or see suffering?”
“It’s not that I don’t know or see suffering. I do know suffering, I do see suffering.”
Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ là do tự mình làm chăng? Thế Tôn nói: 'Này Kassapa, chớ nói như vậy.' Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải khổ là do người khác làm chăng? Thế Tôn nói: 'Này Kassapa, chớ nói như vậy.' Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh khởi chăng? Thế Tôn nói: 'Này Kassapa, chớ nói như vậy.' Thưa Tôn giả Gotama, có phải là không có khổ chăng? 'Này Kassapa, không phải là không có khổ. Này Kassapa, thật sự có khổ.' 'Vậy thì Tôn giả Gotama không biết khổ, không thấy khổ.' 'Này Kassapa, không phải Ta không biết khổ, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta thật sự biết khổ; này Kassapa, Ta thật sự thấy khổ.'
“Kiṁ nu kho, bho gotama, ‘sayaṅkataṁ dukkhan’ti iti puṭṭho samāno ‘mā hevaṁ, kassapā’ti vadesi. ‘Kiṁ pana, bho gotama, paraṅkataṁ dukkhan’ti iti puṭṭho samāno ‘mā hevaṁ, kassapā’ti vadesi. ‘Kiṁ nu kho, bho gotama, sayaṅkatañca paraṅkatañca dukkhan’ti iti puṭṭho samāno ‘mā hevaṁ, kassapā’ti vadesi. ‘Kiṁ pana, bho gotama, asayaṅkāraṁ aparaṅkāraṁ adhiccasamuppannaṁ dukkhan’ti iti puṭṭho samāno ‘mā hevaṁ, kassapā’ti vadesi. ‘Kiṁ nu kho, bho gotama, natthi dukkhan’ti iti puṭṭho samāno ‘na kho, kassapa, natthi dukkhaṁ, atthi kho, kassapa, dukkhan’ti vadesi. ‘Tena hi bhavaṁ gotamo dukkhaṁ na jānāti na passatī’ti iti puṭṭho samāno ‘na khvāhaṁ, kassapa, dukkhaṁ na jānāmi na passāmi. Jānāmi khvāhaṁ, kassapa, dukkhaṁ; passāmi khvāhaṁ, kassapa, dukkhan’ti vadesi. Ācikkhatu ca me, bhante, bhagavā dukkhaṁ. Desetu ca me, bhante, bhagavā dukkhan”ti.
“Worthy Gotama, when asked these questions, you say ‘not so’. Yet you say that there is such a thing as suffering. And you say that you do know suffering, and you do see suffering. Sir, let the Blessed One explain suffering to me! Let the Blessed One teach me about suffering!”
Khi được hỏi: 'Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ là do tự mình làm chăng?', Ngài đã trả lời: 'Này Kassapa, chớ nói như vậy.' Khi được hỏi: 'Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải khổ là do người khác làm chăng?', Ngài đã trả lời: 'Này Kassapa, chớ nói như vậy.' Khi được hỏi: 'Thưa Tôn giả Gotama, có phải khổ là vừa do tự mình làm, vừa do người khác làm chăng?', Ngài đã trả lời: 'Này Kassapa, chớ nói như vậy.' Khi được hỏi: 'Thưa Tôn giả Gotama, vậy có phải khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, mà do ngẫu nhiên sanh khởi chăng?', Ngài đã trả lời: 'Này Kassapa, chớ nói như vậy.' Khi được hỏi: 'Thưa Tôn giả Gotama, có phải là không có khổ chăng?', Ngài đã trả lời: 'Này Kassapa, không phải là không có khổ. Này Kassapa, thật sự có khổ.' Khi được hỏi: 'Vậy thì Tôn giả Gotama không biết khổ, không thấy khổ', Ngài đã trả lời: 'Này Kassapa, không phải Ta không biết khổ, không thấy khổ. Này Kassapa, Ta thật sự biết khổ; này Kassapa, Ta thật sự thấy khổ.' Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy chỉ rõ khổ cho con. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy thuyết giảng về khổ cho con.
“‘So karoti so paṭisaṁvedayatī’ti kho, kassapa, ādito sato ‘sayaṅkataṁ dukkhan’ti iti vadaṁ sassataṁ etaṁ pareti. ‘Añño karoti añño paṭisaṁvedayatī’ti kho, kassapa, vedanābhitunnassa sato ‘paraṅkataṁ dukkhan’ti iti vadaṁ ucchedaṁ etaṁ pareti. Ete te, kassapa, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti: ‘avijjāpaccayā saṅkhārā;
saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’”ti.
“Suppose that he who does the deed and he who experiences the result are one and the same. Then for one who has existed since the beginning, suffering is made by oneself. In speaking like this, one implies this is eternal. Suppose that he who does the deed is one, and he who experiences the result is another. Then for one stricken by feeling, suffering is made by another. In speaking like this, one implies this is annihilated. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way: ‘Ignorance is a requirement for choices.
Choices are a requirement for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.’”
Này Kassapa, người nào nói: 'Người làm cũng là người cảm thọ', và cho rằng ngay từ đầu đã có một thực thể, khi nói 'khổ do tự mình làm' là rơi vào thường kiến. Này Kassapa, người nào nói: 'Người làm là khác, người cảm thọ là khác', và cho rằng có một thực thể bị cảm thọ chi phối, khi nói 'khổ do người khác làm' là rơi vào đoạn kiến. Này Kassapa, Như Lai không đi đến hai cực đoan ấy, thuyết giảng pháp theo trung đạo: 'Do vô minh duyên, các hành sanh; do hành duyên, thức sanh... v.v... Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn tàn dư của chính vô minh ấy, các hành diệt; do hành diệt, thức diệt... v.v... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.'
Evaṁ vutte, acelo kassapo bhagavantaṁ etadavoca: “abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya …pe… ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
When this was said, Kassapa said to the Buddha, “Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
Khi được nói như vậy, lõa thể Kassapa bạch với Thế Tôn rằng: 'Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, cũng như người lật ngửa vật bị úp... v.v... để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn trình bày bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Bạch Thế Tôn, mong con được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, mong con được thọ cụ túc giới.'
“Yo kho, kassapa, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ, so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya. Api ca mayā puggalavemattatā viditā”ti.
“Kassapa, if someone formerly ordained in another sect wishes to take the going forth, the ordination in this teaching and training, they must spend four months on probation. When four months have passed, if the mendicants are satisfied, they’ll give the going forth, the ordination into monkhood. However, I have recognized individual differences.”
Này Kassapa, người nào trước đây thuộc ngoại đạo, muốn được xuất gia, muốn được thọ cụ túc giới trong Pháp và Luật này, người ấy phải trải qua bốn tháng biệt trú. Sau khi hết bốn tháng, nếu các vị Tỳ khưu hài lòng, sẽ cho người ấy xuất gia, thọ cụ túc giới để trở thành Tỳ khưu. Tuy nhiên, Ta biết có sự khác biệt giữa các cá nhân.
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ, cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya. Ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi, catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti.
“Sir, if four months probation are required in such a case, I’ll spend four years on probation. When four years have passed, if the mendicants are satisfied, let them give me the going forth, the ordination into monkhood.”
Bạch Thế Tôn, nếu người trước đây thuộc ngoại đạo, muốn được xuất gia, muốn được thọ cụ túc giới trong Pháp và Luật này, phải trải qua bốn tháng biệt trú, và sau khi hết bốn tháng, nếu các vị Tỳ khưu hài lòng, sẽ cho người ấy xuất gia, thọ cụ túc giới để trở thành Tỳ khưu, thì con sẽ xin biệt trú trong bốn năm. Sau khi hết bốn năm, nếu các vị Tỳ khưu hài lòng, mong các vị cho con xuất gia, thọ cụ túc giới để trở thành Tỳ khưu.
Alattha kho acelo kassapo bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ. Acirūpasampanno ca panāyasmā kassapo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā kassapo arahataṁ ahosīti.
Sattamaṁ.
And the naked ascetic Kassapa received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence. Not long after his ordination, Venerable Kassapa, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And Venerable Kassapa became one of the perfected.
Lõa thể Kassapa đã được xuất gia dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn, đã được thọ cụ túc giới. Và không lâu sau khi thọ cụ túc giới, Tôn giả Kassapa sống một mình, nơi vắng vẻ, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và chẳng bao lâu, đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại mục đích vô thượng của phạm hạnh mà vì đó các thiện nam tử đã chân chánh từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.' Và Tôn giả Kassapa đã trở thành một trong các vị A-la-hán. (Kinh) thứ bảy.