- Saṁyutta Nikāya 12.15
- 2. Āhāravagga
Bản dịch
SN 12.15 — Kinh Kaccānagotta
Kaccānagottasutta
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthi (Xá-vệ) …
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Kaccàyanagotta đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kaccàyanagotta bạch Thế Tôn:
: “Chánh kiến, chánh kiến”, bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là chánh kiến?
Vi-n 4 —Này Kaccāyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.
Vi-n 5 Này Kaccāyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có. Này Kaccāyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có.
Vi-n 6 Này Kaccāyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy. Và ai với tâm không trú trước, không chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: “Ðây là tự ngã của tôi”. Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy. Cho đến như vậy, này Kaccāyana, là chánh tri kiến.
Vi-n 7 “Tất cả là có”, này Kaccāyana, là một cực đoan. “Tất cả là không có” là cực đoan thứ hai.
Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccāyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.
Vi-n 8 Vô minh duyên hành; hành duyên thức … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.15
- 2. Fuel
Kaccānagotta
5. Kinh Kaccānagotta
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho āyasmā kaccānagotto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā kaccānagotto bhagavantaṁ etadavoca:
“‘sammādiṭṭhi sammādiṭṭhī’ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, sammādiṭṭhi hotī”ti?
At Sāvatthī.
Then Venerable Kaccānagotta went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, they speak of this thing called ‘right view’. How is right view defined?”
15. (Tại Sāvatthī, ngài đang an trú.) Bấy giờ, tôn giả Kaccānagotta đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tôn giả Kaccānagotta bạch với Thế Tôn rằng: "Bạch Thế Tôn, được gọi là 'chánh kiến, chánh kiến'. Bạch Thế Tôn, cho đến mức độ nào thì được gọi là chánh kiến?"
“Dvayanissito khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena—atthitañceva natthitañca.
Lokasamudayaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke natthitā sā na hoti. Lokanirodhaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke atthitā sā na hoti.
Upayupādānābhinivesavinibandho khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena.
Tañcāyaṁ upayupādānaṁ cetaso adhiṭṭhānaṁ abhinivesānusayaṁ na upeti na upādiyati nādhiṭṭhāti: ‘attā me’ti. ‘Dukkhameva uppajjamānaṁ uppajjati, dukkhaṁ nirujjhamānaṁ nirujjhatī’ti na kaṅkhati na vicikicchati aparapaccayā ñāṇamevassa ettha hoti.
Ettāvatā kho, kaccāna, sammādiṭṭhi hoti.
“Kaccāna, this world mostly relies on the duality of existence and non-existence.
But for one who truly sees the origin of the world with right understanding, the concept of non-existence regarding the world does not occur. And for one who truly sees the cessation of the world with right understanding, the concept of existence regarding the world does not occur.
This world is for the most part shackled by getting involved, grasping, and insisting.
But if, when it comes to this getting involved & grasping, mental fixation, and insistence & underlying tendency, they are not attracted, do not grasp, and do not fixate on the thought, “my self”, they’ll have no doubt or uncertainty that what arises is just suffering arising, and what ceases is just suffering ceasing. Their knowledge of this is independent of others.
This is how right view is defined.
"Này Kaccāna, thế gian này phần lớn y cứ vào hai cực đoan: hoặc là 'có' hoặc là 'không có'. Này Kaccāna, đối với người thấy được sự tập khởi của thế gian như thật bằng chánh trí tuệ, thì quan điểm 'không có' ở thế gian không tồn tại. Này Kaccāna, đối với người thấy được sự đoạn diệt của thế gian như thật bằng chánh trí tuệ, thì quan điểm 'có' ở thế gian không tồn tại. Này Kaccāna, thế gian này phần lớn bị trói buộc bởi sự chấp thủ, sự bám víu, và sự cố chấp. Vị ấy không đi đến, không bám víu, không an trú vào sự chấp thủ, sự bám víu, sự quyết tâm, sự cố chấp và tùy miên ấy của tâm rằng: 'Đây là tự ngã của tôi'. Vị ấy không nghi ngờ, không do dự rằng: 'Chỉ có khổ đang sanh khởi, chỉ có khổ đang đoạn diệt'. Ở đây, trí tuệ của vị ấy có được là không do duyên nơi người khác. Này Kaccāna, cho đến mức độ như vậy là có chánh kiến.
‘Sabbamatthī’ti kho, kaccāna, ayameko anto.
‘Sabbaṁ natthī’ti ayaṁ dutiyo anto.
Ete te, kaccāna, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
‘avijjāpaccayā saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’”ti.
Pañcamaṁ.
‘All exists’: this is one extreme.
‘All does not exist’: this is the second extreme.
Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way:
‘Ignorance is a requirement for choices. Choices are a requirement for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates.
When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.’”
"Này Kaccāna, 'tất cả đều có' là một cực đoan. 'Tất cả đều không có' là cực đoan thứ hai. Này Kaccāna, không đi đến hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết giảng Pháp theo trung đạo: 'Do vô minh làm duyên, các hành sanh khởi; do các hành làm duyên, thức sanh khởi... như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này. Do sự đoạn diệt và ly tham không còn dư tàn của chính vô minh ấy, các hành diệt; do các hành diệt, thức diệt... như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này'."