- Saṁyutta Nikāya 12.14
- 2. Āhāravagga
Bản dịch
SN 12.14 — Kinh Sa-môn và Bà-la-môn thứ hai
Dutiyasamaṇabrāhmaṇasutta
Vi-n 1 .. Trú ở Sāvatthi …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay là Bà-la-môn nào không biết rõ những pháp này, không biết rõ những pháp này tập khởi, không biết rõ những pháp này đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến những pháp này đoạn diệt.
Vi-n 3 Những pháp gì họ không được biết rõ? Những pháp gì họ không được biết rõ tập khởi? Những pháp gì họ không được biết rõ đoạn diệt? Những pháp gì họ không được biết rõ con đường đưa đến đoạn diệt?
Vi-n 4 Họ không biết rõ già, chết. Họ không biết rõ già, chết tập khởi. Họ không biết rõ già, chết đoạn diệt. Họ không biết rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt. Họ không biết rõ sanh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … sáu xứ … danh sắc … thức … Họ không biết rõ các hành. Họ không biết rõ các hành tập khởi. Họ không biết rõ các hành đoạn diệt. Họ không biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt. Họ không biết rõ những pháp này. Họ không biết rõ những pháp này tập khởi. Họ không biết rõ pháp này đoạn diệt. Họ không biết rõ con đường đưa đến những pháp này đoạn diệt.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, cũng không có thể với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 6 Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết rõ được những pháp này, biết rõ được những pháp này tập khởi, biết rõ được những pháp này đoạn diệt, biết rõ được con đường đưa đến những pháp này đoạn diệt.
Vi-n 7 Họ biết rõ pháp gì? Họ biết rõ những pháp gì tập khởi? Họ biết rõ những pháp gì đoạn diệt? Họ biết rõ con đường đưa đến những pháp gì đoạn diệt?
Vi-n 8 Họ biết rõ già, chết. Họ biết rõ già, chết tập khởi. Họ biết rõ già, chết đoạn diệt. Họ biết rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt … sanh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … sáu xứ … danh sắc … thức … Họ biết rõ các hành. Họ biết rõ các hành tập khởi. Họ biết rõ các hành đoạn diệt. Họ biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt. Họ biết rõ những pháp này. Họ biết rõ những pháp này tập khởi. Họ biết rõ những pháp này đoạn diệt. Họ biết rõ con đường đưa đến của những pháp này đoạn diệt.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các hàng Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các hàng Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại, với thắng trí, tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.14
- 2. Fuel
Ascetics and Brahmins (2nd)
4. Kinh Sa-môn và Bà-la-môn thứ hai
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ime dhamme nappajānanti, imesaṁ dhammānaṁ samudayaṁ nappajānanti, imesaṁ dhammānaṁ nirodhaṁ nappajānanti, imesaṁ dhammānaṁ nirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti, katame dhamme nappajānanti, katamesaṁ dhammānaṁ samudayaṁ nappajānanti, katamesaṁ dhammānaṁ nirodhaṁ nappajānanti, katamesaṁ dhammānaṁ nirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti?
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t understand these things, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. What things don’t they understand?
14. Trú ở Sāvatthī... “Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết rõ các pháp này, không biết rõ sự sanh khởi của các pháp này, không biết rõ sự đoạn diệt của các pháp này, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các pháp này. Không biết rõ những pháp nào, không biết rõ sự sanh khởi của những pháp nào, không biết rõ sự đoạn diệt của những pháp nào, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của những pháp nào?”
Jarāmaraṇaṁ nappajānanti, jarāmaraṇasamudayaṁ nappajānanti, jarāmaraṇanirodhaṁ nappajānanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti; jātiṁ …pe… bhavaṁ … upādānaṁ … taṇhaṁ … vedanaṁ … phassaṁ … saḷāyatanaṁ … nāmarūpaṁ … viññāṇaṁ … saṅkhāre nappajānanti, saṅkhārasamudayaṁ nappajānanti, saṅkhāranirodhaṁ nappajānanti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti. Ime dhamme nappajānanti, imesaṁ dhammānaṁ samudayaṁ nappajānanti, imesaṁ dhammānaṁ nirodhaṁ nappajānanti, imesaṁ dhammānaṁ nirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti. Na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā, na ca pana te āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
They don’t understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They don’t understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They don’t understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They don’t understand these things, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
“Họ không biết rõ già chết, không biết rõ sự sanh khởi của già chết, không biết rõ sự đoạn diệt của già chết, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của già chết; không biết rõ sanh... hữu... thủ... ái... thọ... xúc... sáu xứ... danh sắc... thức... các hành, không biết rõ sự sanh khởi của các hành, không biết rõ sự đoạn diệt của các hành, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành. Họ không biết rõ các pháp này, không biết rõ sự sanh khởi của các pháp này, không biết rõ sự đoạn diệt của các pháp này, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các pháp này. Này các Tỳ khưu, đối với Ta, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được xem là Sa-môn trong hàng Sa-môn, hay không được xem là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn; và các vị tôn giả ấy cũng không tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú trong mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh ngay trong hiện tại, với thắng trí.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā ime dhamme pajānanti, imesaṁ dhammānaṁ samudayaṁ pajānanti, imesaṁ dhammānaṁ nirodhaṁ pajānanti, imesaṁ dhammānaṁ nirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti, katame dhamme pajānanti, katamesaṁ dhammānaṁ samudayaṁ pajānanti, katamesaṁ dhammānaṁ nirodhaṁ pajānanti, katamesaṁ dhammānaṁ nirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti?
There are ascetics and brahmins who do understand these things, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. What things do they understand?
“Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết rõ các pháp này, biết rõ sự sanh khởi của các pháp này, biết rõ sự đoạn diệt của các pháp này, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các pháp này. Biết rõ những pháp nào, biết rõ sự sanh khởi của những pháp nào, biết rõ sự đoạn diệt của những pháp nào, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của những pháp nào?
Jarāmaraṇaṁ pajānanti, jarāmaraṇasamudayaṁ pajānanti, jarāmaraṇanirodhaṁ pajānanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti; jātiṁ …pe… bhavaṁ … upādānaṁ … taṇhaṁ … vedanaṁ … phassaṁ … saḷāyatanaṁ … nāmarūpaṁ … viññāṇaṁ … saṅkhāre pajānanti, saṅkhārasamudayaṁ pajānanti, saṅkhāranirodhaṁ pajānanti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti. Ime dhamme pajānanti, imesaṁ dhammānaṁ samudayaṁ pajānanti, imesaṁ dhammānaṁ nirodhaṁ pajānanti, imesaṁ dhammānaṁ nirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti. Te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā, brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā. Te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Catutthaṁ.
They understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand these things, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
“Họ biết rõ già chết, biết rõ sự sanh khởi của già chết, biết rõ sự đoạn diệt của già chết, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của già chết; biết rõ sanh... hữu... thủ... ái... thọ... xúc... sáu xứ... danh sắc... thức... các hành, biết rõ sự sanh khởi của các hành, biết rõ sự đoạn diệt của các hành, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành. Họ biết rõ các pháp này, biết rõ sự sanh khởi của các pháp này, biết rõ sự đoạn diệt của các pháp này, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các pháp này. Này các Tỳ khưu, đối với Ta, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn trong hàng Sa-môn, và được xem là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn. Và các vị tôn giả ấy tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú trong mục đích của Sa-môn hạnh và mục đích của Bà-la-môn hạnh ngay trong hiện tại, với thắng trí.” Kinh thứ tư.