- Saṁyutta Nikāya 12.13
- 2. Āhāravagga
Bản dịch
SN 12.13 — Kinh Sa-môn và Bà-la-môn
Samaṇabrāhmaṇasutta
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthi …
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết rõ già, chết, không biết rõ già, chết tập khởi, không biết rõ già, chết đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt; không biết rõ sanh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … sáu xứ … danh sắc … thức … không biết rõ các hành, không biết rõ các hành tập khởi, không biết rõ các hành đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt; các vị Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại cũng không có thể với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
Vi-n 3 Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay là Bà-la-môn nào biết rõ già, chết, biết rõ già, chết tập khởi, biết rõ già, chết đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến già, chết đoạn diệt … biết rõ sanh … hữu … thủ … ái … thọ … xúc … sáu xứ … danh sắc … thức … biết rõ các hành, biết rõ các hành tập khởi, biết rõ các hành đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt; các Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được chấp nhận là Sa-môn giữa các Sa-môn, hay là Bà-la-môn giữa các Bà-la-môn. Và những bậc Tôn giả ấy, ngay trong đời sống hiện tại có thể với thắng trí tự mình giác ngộ, chứng đạt và an trú mục đích Sa-môn và mục đích Bà-la-môn hạnh.
Bản dịch: Thích Minh Châu
Bộ kinh đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ và Thiền viện Vạn Hạnh phát hành trong đầu thập niên 1980. Sau đó, trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được tái bản năm 1993 và có số thứ tự từ 12 đến 16. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
- Linked Discourses 12.13
- 2. Fuel
Ascetics and Brahmins
3. Kinh Sa-môn và Bà-la-môn
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Ye hi keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ nappajānanti, jarāmaraṇasamudayaṁ nappajānanti, jarāmaraṇanirodhaṁ nappajānanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti; jātiṁ …pe… bhavaṁ … upādānaṁ … taṇhaṁ … vedanaṁ … phassaṁ … saḷāyatanaṁ … nāmarūpaṁ … viññāṇaṁ … saṅkhāre nappajānanti, saṅkhārasamudayaṁ nappajānanti, saṅkhāranirodhaṁ nappajānanti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ nappajānanti, na me te, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā; na ca pana te āyasmanto sāmaññatthaṁ vā brahmaññatthaṁ vā diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti.
At Sāvatthī.
“Mendicants, there are ascetics and brahmins who don’t understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They don’t understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They don’t understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I don’t deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables don’t realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and don’t live having realized it with their own insight in this very life.
13. Trú ở Sāvatthī... Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết rõ già chết, không biết rõ sự sanh khởi của già chết, không biết rõ sự đoạn diệt của già chết, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của già chết; không biết rõ sanh... hữu... thủ... ái... thọ... xúc... sáu xứ... danh sắc... thức... các hành, không biết rõ sự sanh khởi của các hành, không biết rõ sự đoạn diệt của các hành, không biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành; này các Tỳ khưu, đối với Ta, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy không được xem là Sa-môn trong hàng Sa-môn, hay không được xem là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn; và các vị tôn giả ấy cũng không tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú trong mục đích của Sa-môn hạnh hay mục đích của Bà-la-môn hạnh ngay trong hiện tại, với thắng trí.
Ye ca kho keci, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā jarāmaraṇaṁ pajānanti, jarāmaraṇasamudayaṁ pajānanti, jarāmaraṇanirodhaṁ pajānanti, jarāmaraṇanirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti; jātiṁ …pe… bhavaṁ … upādānaṁ … taṇhaṁ … vedanaṁ … phassaṁ … saḷāyatanaṁ … nāmarūpaṁ … viññāṇaṁ … saṅkhāre pajānanti, saṅkhārasamudayaṁ pajānanti, saṅkhāranirodhaṁ pajānanti, saṅkhāranirodhagāminiṁ paṭipadaṁ pajānanti, te kho me, bhikkhave, samaṇā vā brāhmaṇā vā samaṇesu ceva samaṇasammatā brāhmaṇesu ca brāhmaṇasammatā; te ca panāyasmanto sāmaññatthañca brahmaññatthañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharantī”ti.
Tatiyaṁ.
There are ascetics and brahmins who do understand old age and death, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. They understand rebirth … continued existence … grasping … craving … feeling … contact … the six sense fields … name and form … consciousness … They understand choices, their origin, their cessation, and the practice that leads to their cessation. I deem them as true ascetics and brahmins. Those venerables realize the goal of life as an ascetic or brahmin, and live having realized it with their own insight.”
“Này các Tỳ khưu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết rõ già chết, biết rõ sự sanh khởi của già chết, biết rõ sự đoạn diệt của già chết, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của già chết; biết rõ sanh... hữu... thủ... ái... thọ... xúc... sáu xứ... danh sắc... thức... các hành, biết rõ sự sanh khởi của các hành, biết rõ sự đoạn diệt của các hành, biết rõ con đường đưa đến sự đoạn diệt của các hành; này các Tỳ khưu, đối với Ta, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy được xem là Sa-môn trong hàng Sa-môn, và được xem là Bà-la-môn trong hàng Bà-la-môn; và các vị tôn giả ấy tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú trong mục đích của Sa-môn hạnh và mục đích của Bà-la-môn hạnh ngay trong hiện tại, với thắng trí.” Kinh thứ ba.