Bản dịch
VV 84 — Thiên Cung của Serissaka
10. Serīsakavimānavatthu
BJT 1230Chúng ta hãy lắng nghe về sự gặp gỡ của vị Dạ-xoa và các người thương buôn đã xảy ra vào lúc ấy. Câu chuyện đã khéo được trao đổi bởi người này với người kia như thế nào, xin tất cả hãy lắng nghe câu chuyện ấy.
BJT 1231Vị vua ấy tên là Pāyāsi, có danh tiếng, đã đi đến cộng trú với chư Thiên địa cầu. Ngay trong lúc đang vui thích ở Thiên cung của mình, vị phi nhân ấy đã nói với loài người rằng:
BJT 1232“Ở khu rừng hiểm trở, nơi không có loài người, ở sa mạc, thiếu nước, thiếu thức ăn, nơi vô cùng khó đi, ở giữa đầm cát, nhiều người bị mất trí vì nỗi sợ hãi sự hiểm trở.
BJT 1233Ở nơi đây, không có các trái cây, và các loại cây có rễ, không có củi lửa, lấy đâu ở đây có thức ăn, ngoại trừ nhiều bụi bặm, lắm cát, các sự thiêu đốt, các sự nóng bức, và các sự khắc nghiệt?
BJT 1234Vùng sa mạc tựa như cái chảo đã được đốt nóng, không có lợi ích, tương đương với thế giới khác (địa ngục); chỗ trú ngụ này là của những kẻ hung dữ trước đây, là vùng đất bị nguyền rủa.
BJT 1235Còn các người, vì nguyên nhân gì, trong khi đang mong mỏi điều gì, lại vội vã tập hợp rồi đi vào chính khu vực này, do lòng tham, do sự sợ hãi, hay là đã bị lầm lẫn?”
BJT 1236“Các chủ đoàn xe ở xứ sở Magadha và Aṅga sau khi cho chất lên hàng hoá với số lượng dồi dào, những người ấy đi đến vùng đất Sindhu và Sovīra với mục đích về tài sản, với mong mỏi về lợi nhuận.
BJT 1237Vào ban ngày, do không chịu đựng được cơn khát và mãi quan tâm đến sự thương xót đối với các con vật kéo xe, tất cả chúng tôi di chuyển với tốc độ này và đến được con đường vào ban đêm, không đúng thời điểm.
BJT 1238Đã khởi hành chậm trễ, đã bị lạc đường, bị rối loạn như người mù, đã bị lạc lối trong khu rừng, ở chỗ vô cùng khó đi, ở giữa đầm cát, chúng tôi đây không nhận ra phương hướng, có tâm bị hoang mang.
BJT 1239Và thưa vị Dạ-xoa, sau khi nhìn thấy việc này, việc chưa được thấy trước đây, là Thiên cung hạng nhất và ngài, trong khi đang mong mỏi về mạng sống sau này, đến lúc nhìn thấy (ngài), chúng tôi trở nên mừng rỡ, có tâm ý vui vẻ, phấn khởi.”
BJT 1240“Vì nguyên nhân của cải, quý vị đi đến những phương trời khác biệt, đến bờ bên kia của biển cả và đầm cát này, đến con đường có sự di chuyển với gậy chống và lối đi có cắm cọc, đến những con sông, thêm nữa là những con đường hiểm trở ở các ngọn núi.
BJT 1241Này quý vị, sau khi tiến vào lãnh thổ của những người khác, trong khi ngắm nhìn những con người thuộc nhiều quốc độ, điều nào đã được quý vị nghe, hoặc nhìn thấy, hãy cho chúng tôi nghe điều kỳ diệu ấy từ quý vị.”
BJT 1242“Thưa Thiên tử, điều kỳ diệu hơn thế này chúng tôi không được nghe hoặc nhìn thấy, tất cả đều vượt trội (thế giới) loài người, sau khi nhìn thấy chúng tôi chưa được thỏa mãn về vẻ đẹp tuyệt vời.
BJT 1243Ở không trung có những hồ sen với vô số bông hoa, với nhiều sen trắng, và những cây cối này được trổ quả thường xuyên, có những hương thơm tỏa ra cực kỳ thơm ngát.
BJT 1244Có những cây cột bằng ngọc bích vươn cao một trăm (ratana), có bề mặt trải dài làm bằng đá và san hô, có các viên ngọc mắt mèo và các viên hồng ngọc, và những trụ cột này làm bằng ngọc như ý.
BJT 1245Có ngàn cây cột có năng lực không sánh bằng, phía trên chúng là Thiên cung tốt đẹp này, ở bên trong có châu báu, được kết hợp với hành lang bằng vàng, và được che phủ một cách khéo léo với những tấm lợp bằng vàng.
BJT 1246(Thiên cung) này chói sáng với vàng từ sông Jambu đã được tinh luyện. (Khu vực ấy) khéo được đánh bóng, được hiện hữu với các tòa lâu đài, các cầu thang, các sân thượng, vững chãi, dễ thương, có dáng xinh xắn, khéo được phối hợp, vô cùng cuốn hút sự nhìn ngắm, làm hài lòng.
BJT 1247Ở bên trong (Thiên cung) châu ngọc, có nhiều thức ăn thức uống, được tháp tùng bởi đoàn tiên nữ, được vang vang tiếng trống con, trống lớn, và các nhạc cụ, ngài được tôn vinh với sự ngợi ca và lễ bái.
BJT 1248Ở tòa lâu đài nơi Thiên cung cao quý, làm thích ý, với sự đánh thức bởi các nhóm phụ nữ, ngài đây, không thể nghĩ bàn, có đủ mọi đức tính, vui sướng giống như đức vua Vessavaṇa ở Nalinī.
BJT 1249Ngài là Thiên nhân, hay ngài là Dạ-xoa, là Chúa của chư Thiên, hay là bản thể nhân loại? Những người thương buôn, các chủ đoàn xe hỏi ngài. Xin ngài hãy nói tên (của ngài) là gì, có phải ngài là Dạ-xoa?”
BJT 1250“Tôi chính là Dạ-xoa tên Serissaka, sống ở sa mạc, là người canh giữ đầm cát. Tôi hộ trì khu vực này, là người thực thi mệnh lệnh của đức Vua Vessavaṇa.”
BJT 1251“(Công việc này) được nhận lãnh bởi ngài một cách ngẫu nhiên, được nảy sanh do sự phát triển, tự mình tạo ra, hay được chư Thiên giao cho? Những người thương buôn, các chủ đoàn xe hỏi ngài: Bằng cách nào mà ngài đã đạt được công việc hài lòng này?”
BJT 1252“(Công việc này) không được nhận lãnh bởi tôi một cách ngẫu nhiên, không được nảy sanh do sự phát triển, không tự mình tạo ra, cũng không được chư Thiên giao cho. Công việc hài lòng này tôi đã đạt được nhờ vào những nghiệp không xấu xa, nhờ vào những phước thiện của chính mình.”
BJT 1253“(Trước đây) phận sự của ngài là gì? Còn có hạnh kiểm cao đẹp gì? Quả thành tựu này là của việc gì đã khéo được thực hành? Những người thương buôn, các chủ đoàn xe hỏi ngài: Bằng cách nào mà ngài đã đạt được Thiên cung này?”
BJT 1254“Vào lúc tôi cai quản vương quốc Kosala, Pāyāsi đã là danh hiệu của tôi. Lúc ấy tôi đã là người có quan điểm hư vô, bỏn xẻn, có bản tính xấu xa, và là người tuyên bố về đoạn kiến.
BJT 1255Và rồi đã có vị Sa-môn Kumārakassapa, đa văn, có sự thuyết giảng sinh động, cao thượng. Khi ấy, vị ấy đã thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp cho tôi, đã xua đuổi những sự méo mó về quan điểm cho tôi.
BJT 1256Tôi đây, sau khi lắng nghe sự thuyết giảng Giáo Pháp của vị ấy, đã tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Tôi đã kiêng chừa việc giết hại mạng sống, tôi đã xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và tôi đã không nói lời dối trá, tôi đã được vui thích (chỉ) với người vợ của mình.
BJT 1257Việc ấy là phận sự của tôi, việc ấy còn là hạnh kiểm cao đẹp. Quả thành tựu này là của việc đã khéo được thực hành ấy. Nhờ vào những nghiệp không xấu xa, nhờ vào những phước thiện ấy đấy, mà tôi đã đạt được Thiên cung này.”
BJT 1258“Nghe rằng những người có trí tuệ đã nói sự thật; lời nói của các bậc hiền trí là không sai khác. Người có nghiệp phước thiện đi đến bất cứ nơi nào đều vui sướng ở tại nơi ấy, là người có dục lạc theo như ước muốn.
BJT 1259Bất cứ nơi nào có sự sầu muộn và than vãn, có sự giết chóc và sự giam cầm, có sự chướng ngại, kẻ có ác pháp đi đến nơi ấy, không khi nào được thoát khỏi cảnh giới khổ đau.”
BJT 1260“Tập thể (chư Thiên) tựa như có vẻ bị bối rối, tựa như đã bị làm vẩn đục vào giây phút này. Thưa Thiên tử, vậy thì do điều gì mà tập thể này và ngài đã có sự thất vọng?”
BJT 1261“Thưa quý vị, từ khu rừng sirīsa kế cận những hương thơm này thuộc cõi Trời tỏa ra thơm ngát; sau khi đã tiêu diệt bóng tối vào ban ngày và ban đêm chúng tự tỏa đến Thiên cung này.
BJT 1262Và khi đã trải qua một trăm năm, chỉ một quả của những cây này được kết trái. Kể từ khi tôi được sanh ra ở tập thể (chư Thiên) tại nơi này thì một trăm năm nhân loại đã trôi qua.
BJT 1263tôi đã nhìn thấy tôi sẽ tồn tại ở Thiên cung này năm trăm năm, do sự cạn kiệt của tuổi thọ, do sự cạn kiệt của phước báu, tôi sẽ chết; chính vì nỗi sầu muộn ấy tôi bị hoảng loạn.”
BJT 1264“Bằng cách nào mà vị ấy, thuộc thành phần như thế, sau khi đạt được Thiên cung không thể sánh bằng một cách lâu dài, lại có thể sầu muộn? Chỉ có những người nào đã được sanh lên một cách ngắn ngủi, phải chăng những người ấy, với phước báu ít ỏi, mới có thể sầu muộn?”
BJT 1265“Việc quý vị nói lời nói yêu mến với tôi (nghĩa là) điều khuyên bảo của tôi thích hợp đối với quý vị. Thưa quý vị, quý vị đã được tôi hộ trì theo như ước muốn, vì thế quý vị hãy lên đường một cách an toàn.”
BJT 1266“Sau khi đi đến vùng đất Sindhu và Sovīra, chúng tôi với mục đích về tài sản, với mong mỏi về lợi nhuận, có sự hào phóng đầy đủ theo như kế hoạch, sẽ làm lễ hội cao sang cho Serissa.”
BJT 1267“Quý vị chớ có làm lễ hội cho Serissa, và tất cả sẽ trở thành hiện thực cho quý vị theo điều quý vị nói. Quý vị hãy tránh xa hẳn các nghiệp ác xấu, và hãy phát nguyện gắn bó với Giáo Pháp.
BJT 1268Ở tập thể này, có người cận sự nam đa văn, được đầy đủ giới hạnh và phận sự, có đức tin, có sự hào phóng, và vô cùng tốt lành, có sự suy xét, tự hài lòng, có sự thận trọng.
BJT 1269Là người không cố tình nói lời dối trá, không suy nghĩ đến việc hãm hại người khác, không gây ra sự chia rẽ, đâm thọc, và nói lời mềm mỏng, tử tế.
BJT 1270Có sự tôn kính, có sự phục tùng, đã được huấn luyện, không độc ác, thanh tịnh về giới bậc thượng, có hạnh kiểm thánh thiện, con người ấy nuôi dưỡng mẹ và luôn cả cha đúng theo Pháp.
BJT 1271Tôi nghĩ rằng vị ấy tầm cầu của cải vì lý do (phụng dưỡng) mẹ cha, không vì nguyên nhân của bản thân. Với sự qua đời của mẹ và cha, người ấy, với khuynh hướng xuất ly, sẽ thực hành Phạm hạnh.
BJT 1272Là người ngay thẳng, không khúc mắc, không gian trá, không xảo quyệt, và không phát biểu theo lối viện cớ. Vị ấy, như thế ấy, là người tạo nên hành động đã được thực hiện một cách tốt đẹp, đứng vững trong Giáo Pháp, sao lại nhận lãnh sự khổ đau?
BJT 1273Bởi lý do người ấy, tôi tự thân hiện ra. Vì thế, quý vị thương buôn hãy nhận thức Giáo Pháp. Ở đây, không có người ấy, quý vị có thể trở thành tro bụi, bị rối loạn như người mù, bị lạc lối trong khu rừng; (bởi vì) đối với kẻ đang xử tệ người ấy, như thế ấy hay việc khác nữa là điều dễ dàng. Quả vậy, việc kết giao với người tốt lành là hạnh phúc.”
BJT 1274“Người ấy tên là gì, làm nghề nghiệp gì, tên gọi là gì, hơn nữa họ của người ấy là gì? Thưa vị Dạ-xoa, chúng tôi cũng có mong muốn được gặp người ấy, vì lòng thương tưởng người ấy mà ngài đã đi đến nơi đây, bởi vì người nào mà ngài yêu quý thì lợi ích là thuộc về người ấy.”
BJT 1275“Người nào là thợ cạo, có tên gọi là Sambhava, là người cận sự nam, có sự nuôi mạng bằng lược và dao cạo, quý vị biết người ấy, người ấy là người sai vặt của quý vị. Đúng vậy, chớ khinh chê người ấy, người ấy vô cùng tốt lành.”
BJT 1276Thưa vị Dạ-xoa, chúng tôi biết người mà ngài nói, nhưng chúng tôi quả không biết người ấy là người như thế ấy. Thưa vị Dạ-xoa, chúng tôi cũng sẽ tôn vinh người ấy sau khi lắng nghe lời nói cao cả của ngài.”
BJT 1277“Bất cứ người nào ở đoàn xe này, thanh niên, lão niên, luôn cả trung niên, hết thảy tất cả những người ấy hãy bước lên Thiên cung, những kẻ keo kiệt hãy nhìn xem quả báo của các việc phước thiện.”
BJT 1278“Tại đó, sau khi đã đưa người thợ cạo ấy lên phía trước tại nơi ấy, hết thảy tất cả những người ấy (đã nói rằng): ‘Tôi trước,’ hết thảy tất cả những người ấy đã bước lên Thiên cung tựa như (Thiên cung) Masakkasāra của vị Vāsava (Chúa Trời Sakka).
BJT 1279Tại đó, hết thảy tất cả những người ấy (đã nói rằng): ‘Tôi trước’ và đã tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Họ đã kiêng chừa việc giết hại mạng sống, họ đã xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời.
BJT 1280Không có việc uống chất say, và họ đã không nói lời dối trá, họ đã được vui thích (chỉ) với người vợ của mình. Tại đó, hết thảy tất cả những người ấy (đã nói rằng): ‘Tôi trước’ và đã tuyên bố bản thân là người cư sĩ. Trong khi đang tùy hỷ với thần thông của vị Dạ-xoa đợt này đến đợt khác, đoàn xe, được cho phép, đã khởi hành.
BJT 1281Sau khi đi đến vùng đất Sindhu và Sovīra, những người ấy với mục đích về tài sản, với mong mỏi về lợi nhuận, có sự đạt được đầy đủ theo như kế hoạch, đã trở về lại Pāṭaliputta không bị tổn hại.
BJT 1282Những người ấy, sau khi đi về đến căn nhà của mình, có sự an toàn, được gần gũi với những người con và những người vợ, có sự vui thích, hớn hở, có tâm ý vui vẻ, trở nên mừng rỡ, đã làm lễ hội cao sang cho Serissa.
BJT 1283Những người ấy đã cho xây dựng tòa nhà Serissakā. Sự thân cận với những người tốt lành là như thế ấy, sự thân cận với những đức tính của Giáo Pháp là có lợi ích lớn, nhờ vào sự lợi ích của một cận sự nam, hết thảy tất cả chúng sanh đã có trạng thái hạnh phúc.”
Thiên Cung của Serissaka.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
10. Serīsakavimānavatthu
10. The Story of the Serīsaka Mansion
10. Câu chuyện về Thiên cung Serīsaka.
1228.
1228.
1228.
† Suṇotha yakkhassa ca vāṇijāna ca, samāgamo yattha tadā ahosi;
Yathā kathaṃ itaritarena cāpi, subhāsitaṃ tañca suṇātha sabbe.
Listen, all of you, to the meeting of the yakkha and the merchants that then took place, and to the well-spoken words, however they were spoken between one another.
Xin quý vị hãy lắng nghe về cuộc gặp gỡ giữa vị dạ-xoa và các thương buôn đã xảy ra khi ấy. Và tất cả quý vị hãy lắng nghe những lời khéo nói mà họ đã trao đổi với nhau.
1229.
1229.
1229.
‘‘Yo so ahu rājā pāyāsi nāma †, bhummānaṃ sahabyagato yasassī;
So modamānova sake vimāne, amānuso mānuse ajjhabhāsīti.
There was that king named Pāyāsi, glorious, who had attained the companionship of the earth-deities. That non-human, rejoicing in his own mansion, addressed the humans.
Vị vua tên là Pāyāsi, người đã trở thành bạn đồng hành của các vị địa thiên, một vị vua lừng danh. Vị ấy, một phi nhân, đang hoan hỷ trong thiên cung của mình, đã nói với những người phàm.
1230.
1230.
1230.
‘‘Vaṅke araññe amanussaṭṭhāne, kantāre appodake appabhakkhe;
Suduggame vaṇṇupathassa majjhe, vaṅkaṃ bhayā † naṭṭhamanā manussā.
In a treacherous forest, a place of non-humans, a wilderness with little water and little food, very hard to traverse, in the middle of a sandy track, were humans with minds bewildered by fear.
10. Hỡi những người kia, tâm trí hoang mang, sợ hãi con đường quanh co, giữa sa mạc cát, một nơi hoang vu, trú xứ của phi nhân, một vùng hoang địa không nước, không thức ăn, rất khó đi qua.
1231.
1231.
1231.
‘‘Nayidha phalā mūlamayā ca santi, upādānaṃ natthi kutodha bhakkho;
Aññatra paṃsūhi ca vālukāhi ca, tatāhi uṇhāhi ca dāruṇāhi ca.
Here there are neither fruits nor roots, and there is no fuel. From where, then, could there be food? There is nothing here except for dust and sand that are scorched, hot, and harsh.
Ở đây không có trái cây hay củ rễ, cũng không có củi đốt. Vậy thức ăn từ đâu ra? Ngoại trừ bụi và cát, nóng bỏng, thiêu đốt và khắc nghiệt.
1232.
1232.
1232.
‘‘Ujjaṅgalaṃ tattamivaṃ kapālaṃ, anāyasaṃ paralokena tulyaṃ;
Luddānamāvāsamidaṃ purāṇaṃ, bhūmippadeso abhisattarūpo.
A barren waste, like a heated potsherd, a comfortless place comparable to the next world. This is an ancient abode of the cruel; this region of earth is as if it were cursed.
Vùng đất hoang vu này như một mảnh sành nung nóng, không có sự an toàn, tương tự như một thế giới khác (địa ngục). Đây là nơi ở xưa kia của những kẻ hung dữ. Vùng đất này dường như đã bị nguyền rủa.
1233.
1233.
1233.
‘‘Atha tumhe kena † vaṇṇena, kimāsamānā imaṃ padesaṃ hi;
Anupaviṭṭhā sahasā samecca, lobhā bhayā atha vā sampamūḷhā’’ti.
“For what reason, then, and hoping for what, have you entered this region? Have you entered rashly and in concert, out of greed, or fear, or because you are utterly bewildered?”
Vậy thì vì lý do gì, mong muốn điều gì mà quý vị đã đi vào vùng này? Có phải đã vào một cách vội vàng, hấp tấp? Hay vì tham lam, vì sợ hãi, hoặc vì hoàn toàn lạc lối?
1234.
1234.
1234.
‘‘Magadhesu aṅgesu ca satthavāhā, āropayitvā paṇiyaṃ puthuttaṃ;
Te yāmase sindhusovīrabhūmiṃ, dhanatthikā uddayaṃ patthayānā.
“We are caravan merchants from Magadha and Aṅga. Having loaded up many goods, we are journeying to the land of Sindhu-Sovīra, desiring wealth and seeking profit.
Chúng tôi là những người buôn bằng xe ngựa từ xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) và Aṅga (Ương-già). Chúng tôi chất nhiều hàng hóa, mong muốn của cải, tìm kiếm lợi nhuận, và đang đi đến xứ Sindhu-Sovīra.
1235.
1235.
1235.
‘‘Divā pipāsaṃ nadhivāsayantā, yoggānukampañca samekkhamānā,
Etena vegena āyāma sabbe †, rattiṃ maggaṃ paṭipannā vikāle.
“Unable to endure the thirst by day, and also out of compassion for our yoked animals, we all travel the path at night, at an untimely hour, with this haste.
Không thể chịu đựng cơn khát vào ban ngày, và cũng vì thương xót các con vật kéo xe, tất cả chúng tôi đã đi đường vào ban đêm, một thời điểm không thích hợp, với tốc độ này.
1236.
1236.
1236.
‘‘Te duppayātā aparaddhamaggā, andhākulā vippanaṭṭhā araññe;
Suduggame vaṇṇupathassa majjhe, disaṃ na jānāma pamūḷhacittā.
“Having traveled badly and missed the path, confused as if blind, we are lost in the wilderness. In the middle of this very difficult sandy track, with bewildered minds, we do not know the direction.
Chúng tôi đã đi sai đường, lạc mất lối, hoang mang như người mù, mất tinh thần trong vùng hoang dã. Giữa sa mạc cát rất khó đi qua này, với tâm trí hoàn toàn mê muội, chúng tôi không biết phương hướng.
1237.
1237.
1237.
‘‘Idañca disvāna adiṭṭhapubbaṃ, vimānaseṭṭhañca tavañca yakkha;
Tatuttariṃ jīvitamāsamānā, disvā patītā sumanā udaggā’’ti.
“Having seen this which we had never seen before—this excellent mansion and you, O yakkha—we now hope for life even more. Seeing you, we have become delighted, joyful, and elated.”
Và khi thấy thiên cung tuyệt vời này, chưa từng thấy trước đây, và thấy cả ngài nữa, hỡi Dạ-xoa, chúng tôi lại càng hy vọng được sống. Thấy ngài, chúng tôi vui mừng, hoan hỷ và phấn chấn.
1238.
1238.
1238.
‘‘Pāraṃ samuddassa imañca vaṇṇuṃ †, vettācaraṃ † saṅkupathañca maggaṃ;
Nadiyo pana pabbatānañca duggā, puthuddisā gacchatha bhogahetu.
“For the sake of wealth, you travel to the far shore of the ocean and through this sandy waste, along paths of reeds and paths of stakes, across rivers and difficult mountain terrain, to many different regions.
Vì của cải, các ông đi đến bờ bên kia của đại dương, đến sa mạc này, đến những con đường mòn đầy dây leo và cọc nhọn, đến những con sông và những vùng núi non hiểm trở, đến nhiều phương trời khó khăn.
1239.
1239.
1239.
‘‘Pakkhandiyāna vijitaṃ paresaṃ, verajjake mānuse pekkhamānā;
Yaṃ vo sutaṃ vā atha vāpi diṭṭhaṃ, accherakaṃ taṃ vo suṇoma tātā’’ti.
“Entering into the domains of others, observing the people in foreign kingdoms—whatever marvel you have heard or seen, let us hear it from you, dear sirs.”
Các ông đi vào vương quốc của người khác, quan sát những người ở xứ lạ. Hỡi các bạn, điều kỳ diệu nào mà các ông đã nghe hoặc đã thấy, chúng tôi muốn được nghe từ các ông.
1240.
1240.
1240.
‘‘Itopi accherataraṃ kumāra, na to sutaṃ vā atha vāpi diṭṭhaṃ;
Atītamānussakameva sabbaṃ, disvāna tappāma anomavaṇṇaṃ.
“O prince, we have never heard of nor seen anything more marvelous than this. Everything here is indeed beyond the human realm. Seeing your faultless appearance, we cannot get our fill.
Thưa ngài, điều kỳ diệu hơn thế này, chúng tôi chưa từng nghe, cũng chưa từng thấy. Thấy tất cả những thứ này, vượt xa cõi người, với vẻ đẹp không tỳ vết, chúng tôi nhìn không biết chán.
1241.
1241.
1241.
‘‘Vehāyasaṃ pokkharañño savanti, pahūtamalyā † bahupuṇḍarīkā;
Dumā cime † niccaphalūpapannā, atīva gandhā surabhiṃ pavāyanti.
“Lotus ponds flow in the sky, abundant with flowers and many white lotuses. And these trees of yours are always laden with fruit, and an exceedingly sweet fragrance wafts from them.
Những hồ sen trôi chảy trên không trung, có nhiều hoa, nhiều sen trắng. Và những cây này của ngài luôn trĩu quả, tỏa ra hương thơm ngào ngạt.
1242.
1242.
1242.
‘‘Veḷūriyathambhā satamussitāse, silāpavāḷassa ca āyataṃsā;
Masāragallā sahalohitaṅgā, thambhā ime jotirasāmayāse.
“There are pillars of beryl, a hundred cubits high, and long beams of crystal and coral. There are pillars of emerald along with ruby; these pillars are made of radiant gems.
Những cột trụ bằng ngọc lưu ly cao một trăm (tầm), những cột bằng đá và san hô có những phần dài. Những cột bằng ngọc masāragalla cùng với hồng ngọc, những cột này được làm bằng những viên ngọc tỏa sáng.
1243.
1243.
1243.
‘‘Sahassathambhaṃ atulānubhāvaṃ, tesūpari sādhumidaṃ vimānaṃ;
Ratanantaraṃ kañcanavedimissaṃ, tapanīyapaṭṭehi ca sādhuchannaṃ.
“Upon them stands this excellent mansion of a thousand pillars, of incomparable power. It is inlaid with various gems, furnished with golden railings, and well-roofed with plates of refined gold.
“Thiên cung này thật tuyệt vời, ở trên các cột trụ, có một ngàn cột trụ, oai lực không gì sánh bằng; được khảm nhiều loại bảo vật, xen lẫn lan can bằng vàng, và được lợp kỹ lưỡng bằng những tấm vàng ròng.”
1244.
1244.
1244.
‘‘Jambonaduttattamidaṃ sumaṭṭho, pāsādasopāṇaphalūpapanno;
Daḷho ca vaggu ca susaṅgato ca †, atīva nijjhānakhamo manuñño.
“It has the luster of Jambu-river gold and is well-polished, endowed with palaces, stairs, and panels. It is strong, beautiful, and well-proportioned; delightful and most worthy of being gazed upon.
“Thiên cung này làm bằng vàng Diêm-phù-đàn, rất nhẵn bóng, được trang bị các lâu đài, cầu thang và ván gỗ; vừa vững chắc, vừa đẹp đẽ, lại cân đối hài hòa, vô cùng đáng chiêm ngưỡng và khả ái.”
1245.
1245.
1245.
‘‘Ratanantarasmiṃ bahuannapānaṃ, parivārito accharāsaṅgaṇena;
Murajaālambaratūriyaghuṭṭho, abhivanditosi thutivandanāya.
“Within its jeweled interior is abundant food and drink. You are surrounded by a host of celestial nymphs, and it resounds with the sound of drums, tabors, and musical instruments. You are revered with praise and homage.
“Bên trong thiên cung bằng bảo vật có nhiều đồ ăn thức uống, ngài được đoàn tiên nữ vây quanh; tiếng trống muraja, ālambara và các nhạc cụ vang lừng, ngài được tán dương và đảnh lễ.”
1246.
1246.
1246.
‘‘So modasi nārigaṇappabodhano, vimānapāsādavare manorame;
Acintiyo sabbaguṇūpapanno, rājā yathā vessavaṇo naḷinyā †.
“Thus you rejoice in this excellent and delightful palace-mansion, awakening your host of nymphs. Inconceivable, endowed with all virtues, you are like King Vessavaṇa in his Nalinī park.
“Ngài hoan hỷ trong lâu đài thiên cung tuyệt vời và khả ái, được đoàn tiên nữ đánh thức. Ngài không thể nghĩ bàn, hội đủ mọi phẩm hạnh, giống như vua Vessavaṇa ở trong vườn Naḷinī.”
1247.
1247.
1247.
‘‘Devo nu āsi udavāsi yakkho, udāhu devindo manussabhūto;
Pucchanti taṃ vāṇijā satthavāhā, ācikkha ko nāma tuvaṃsi yakkho’’ti.
“Are you a deva, or are you a yakkha? Or are you the lord of devas, or a human being? The merchants, the caravan leaders, ask you. Tell us, what is your name, O yakkha?”
“‘Ngài có phải là một vị trời, hay là một dạ-xoa, hay là Đế-thích, hoặc là một con người? Các thương nhân, những người dẫn đầu đoàn lữ hành, hỏi ngài: ‘Xin hãy cho biết, thưa dạ-xoa, ngài là ai?’”
1248.
1248.
1248.
‘‘Serīsako † nāma ahamhi yakkho, kantāriyo vaṇṇupathamhi gutto;
Imaṃ padesaṃ abhipālayāmi, vacanakaro vessavaṇassa rañño’’ti.
“I am the yakkha named Serīsaka, a denizen of this wilderness, guardian of the sandy path. I protect this region, carrying out the orders of King Vessavaṇa.”
“‘Ta là dạ-xoa tên Serīsaka, người bảo vệ ở hoang địa, trên con đường cát. Ta bảo hộ vùng này, vâng lệnh của vua Vessavaṇa.’”
1249.
1249.
1249.
‘‘Adhiccaladdhaṃ pariṇāmajaṃ te, sayaṃ kataṃ udāhu devehi dinnaṃ;
Pucchanti taṃ vāṇijā satthavāhā, kathaṃ tayā laddhamidaṃ manuñña’’nti.
“Was this obtained by chance, or is it a product of transformation? Was it made by yourself, or was it given by the devas? The merchants, the caravan leaders, ask you: How was this delightful mansion obtained by you?”
“‘Thiên cung này ngài có được một cách ngẫu nhiên, hay do tâm niệm biến hóa, hay tự tay ngài làm ra, hoặc do chư thiên ban tặng? Các thương nhân, những người dẫn đầu đoàn lữ hành, hỏi ngài: ‘Làm thế nào ngài có được thiên cung khả ái này?’”
1250.
1250.
1250.
‘‘Nādhiccaladdhaṃ na pariṇāmajaṃ me, na sayaṃ kataṃ na hi devehi dinnaṃ;
Sakehi kammehi apāpakehi, puññehi me laddhamidaṃ manuñña’’nti.
“It was not obtained by chance, nor is it a product of transformation for me. It was not made by myself, nor was it given by the devas. This delightful mansion was obtained by me through my own meritorious and blameless deeds.”
“‘Ta có được thiên cung khả ái này không phải do ngẫu nhiên, không phải do tâm niệm biến hóa, không phải tự tay làm ra, cũng không phải do chư thiên ban tặng; mà do chính những nghiệp lành, không xấu ác, do phước báu của ta.’”
1251.
1251.
1251.
‘‘Kiṃ te vataṃ kiṃ pana brahmacariyaṃ, kissa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Pucchanti taṃ vāṇijā satthavāhā, kathaṃ tayā laddhamidaṃ vimāna’’nti.
“What was your observance? What was your holy life? Of what well-practiced deed is this the result? The merchants, the caravan leaders, ask you: By what means did you obtain this mansion?”
“‘Giới hạnh của ngài là gì? Phạm hạnh của ngài là gì? Quả báo này là do thiện hạnh nào? Các thương nhân, những người dẫn đầu đoàn lữ hành, hỏi ngài: ‘Làm thế nào ngài có được thiên cung này?’”
1252.
1252.
1252.
‘‘Mamaṃ pāyāsīti ahu samaññā, rajjaṃ yadā kārayiṃ kosalānaṃ;
Natthikadiṭṭhi kadariyo pāpadhammo, ucchedavādī ca tadā ahosiṃ.
“My designation was Pāyāsi when I ruled the kingdom of the Kosalans. At that time, I held a nihilistic view, was miserly, of evil nature, and a proponent of annihilationism.
“‘Ta có tên là Pāyāsi, khi ta cai trị xứ Kosala. Khi ấy, ta là người có tà kiến đoạn diệt, theo thuyết hư vô, keo kiệt và có pháp ác.’”
1253.
1253.
1253.
‘‘Samaṇo ca kho āsi kumārakassapo, bahussuto cittakathī uḷāro;
So me tadā dhammakathaṃ abhāsi †, diṭṭhivisūkāni vinodayī me.
“There was an ascetic, Kumāra Kassapa, who was very learned, an eloquent speaker, and noble. He then spoke the Dhamma to me and dispelled the thorns of my wrong views.
“‘Khi ấy, có vị Sa-môn tên là Kumārakassapa, bậc đa văn, thuyết pháp tài tình, cao thượng. Vị ấy đã thuyết pháp cho ta, và đã nhổ đi những mũi tên tà kiến của ta.’”
1254.
1254.
1254.
‘‘Tāhaṃ tassa † dhammakathaṃ suṇitvā, upāsakattaṃ paṭivedayissaṃ;
Pāṇātipātā virato ahosiṃ, loke adinnaṃ parivajjayissaṃ;
Amajjapo no ca musā abhāṇiṃ, sakena dārena ca ahosi tuṭṭho.
“Having heard his Dhamma talk, I declared myself a lay follower. I abstained from the destruction of life; I avoided taking what is not given in the world. I was not a drinker of intoxicants and I did not speak falsely; and I was content with my own wife.
“‘Sau khi nghe pháp thoại của vị ấy, ta đã xin quy y làm cận sự nam. Ta đã từ bỏ sát sanh, tránh xa việc lấy của không cho ở trên đời; không uống rượu và các chất say, không nói dối, và biết đủ với vợ của mình.’”
1255.
1255.
1255.
‘‘Taṃ me vataṃ taṃ pana brahmacariyaṃ, tassa suciṇṇassa ayaṃ vipāko;
Teheva kammehi apāpakehi, puññehi me laddhamidaṃ vimāna’’nti.
“That was my observance, that was my holy life; this is the result of that which was well-practiced. Through those very deeds, which are blameless and meritorious, this celestial mansion was obtained by me.”
“‘Đó là giới hạnh của ta, đó là phạm hạnh của ta. Đây là quả báo của thiện hạnh ấy. Chính nhờ những nghiệp lành, không xấu ác, nhờ những phước báu ấy mà ta có được thiên cung này.’”
1256.
1256.
1256.
‘‘Saccaṃ kirāhaṃsu narā sapaññā, anaññathā vacanaṃ paṇḍitānaṃ;
Yahiṃ yahiṃ gacchati puññakammo, tahiṃ tahiṃ modati kāmakāmī.
“Truly, wise men have spoken thus; the word of the wise is not otherwise. Wherever one who has done meritorious deeds goes, there they rejoice, fulfilling their desires.
“‘Quả thật, người có trí đã nói lời chân thật, lời của bậc hiền trí không bao giờ sai khác: Người làm phước đi đến đâu, liền được hoan hỷ và thỏa mãn các dục vọng ở nơi đó.’”
1257.
1257.
1257.
‘‘Yahiṃ yahiṃ sokapariddavo ca, vadho ca bandho ca parikkileso;
Tahiṃ tahiṃ gacchati pāpakammo, na muccati duggatiyā kadācī’’ti.
“Wherever there is sorrow and lamentation, slaughter, bondage, and affliction, there goes the one who has done evil deeds; they are never released from a woeful state.”
“‘Nơi nào có sầu bi, than khóc, có giết chóc, trói buộc và phiền não, kẻ làm ác sẽ đi đến nơi đó. Kẻ ấy không bao giờ thoát khỏi ác thú.’”
1258.
1258.
1258.
‘‘Sammūḷharūpova jano ahosi, asmiṃ muhutte kalalīkatova;
Janassimassa tuyhañca kumāra, appaccayo kena nu kho ahosī’’ti.
“The retinue appeared utterly bewildered, as if muddied in that moment. O Prince, for what reason indeed has this displeasure arisen for this retinue and for you?”
“‘Dường như đoàn tùy tùng của ngài trở nên hoang mang, trong khoảnh khắc này, họ như bị vẩn đục. Thưa công tử, vì lý do gì mà sự bất mãn này lại khởi lên cho đoàn tùy tùng này và cho cả ngài?’”
1259.
1259.
1259.
‘‘Ime ca sirīsavanā † tātā, dibbā † gandhā surabhī † sampavanti †;
Te sampavāyanti imaṃ vimānaṃ, divā ca ratto ca tamaṃ nihantvā.
“O sirs, from this Sirīsa forest, divine, fragrant scents waft forth. They pervade this celestial mansion, dispelling the darkness both day and night.
“‘Thưa các ngài, từ những cây sirīsa này, các hương thơm thiêng liêng, ngào ngạt tỏa ra. Chúng tỏa ngát khắp thiên cung này, xua tan bóng tối cả ngày lẫn đêm.’”
1260.
1260.
1260.
‘‘Imesañca kho vassasataccayena, sipāṭikā phalati ekamekā;
Mānussakaṃ vassasataṃ atītaṃ, yadagge kāyamhi idhūpapanno.
“And from these trees, after a hundred years have passed, a single pod falls. A hundred human years have passed since the time I arose in this body here.
“‘Và cứ sau một trăm năm, một trái của những cây này lại rụng xuống. Một trăm năm của cõi người đã trôi qua, kể từ khi ta được tái sanh vào cõi này.’”
1261.
1261.
1261.
‘‘Disvānahaṃ vassasatāni pañca, asmiṃ vimāne ṭhatvāna tātā;
Āyukkhayā puññakkhayā cavissaṃ, teneva sokena pamucchitosmī’’ti †.
“O sirs, foreseeing that after having dwelt in this celestial mansion for five hundred years, I will pass away due to the exhaustion of my lifespan and the exhaustion of my merit, it is because of that sorrow that I am bewildered.”
“‘Thưa các ngài, sau khi ở trong thiên cung này năm trăm năm (của cõi trời), ta thấy rằng mình sẽ phải mệnh chung do hết tuổi thọ và hết phước báu. Chính vì nỗi sầu muộn đó mà ta bị choáng váng.’”
1262.
1262.
1262.
‘‘Kathaṃ nu soceyya tathāvidho so, laddhā vimānaṃ atulaṃ cirāya;
Ye cāpi kho ittaramupapannā, te nūna soceyyuṃ parittapuññā’’ti.
“How indeed should one such as you grieve, having obtained an incomparable celestial mansion for a long time? Surely, it is those of little merit, who have arisen here for but a short while, who should grieve.”
“‘Làm sao một vị như ngài lại có thể sầu muộn, khi đã có được một thiên cung vô song trong một thời gian dài? Chắc chắn chỉ những người có ít phước báu, sanh ra trong một thời gian ngắn, mới nên sầu muộn.’”
1263.
1263.
1263.
‘‘Anucchaviṃ ovadiyañca me taṃ, yaṃ maṃ tumhe peyyavācaṃ vadetha;
Tumhe ca kho tātā mayānuguttā, yenicchakaṃ tena paletha sotthi’’nti.
“O sirs, that affectionate speech you have spoken to me is both fitting and is advice for me. And you are protected by me. Go in safety wherever you wish.”
“‘Lời ái ngữ mà các ngài nói với ta thật là thích hợp và là lời khuyên cho ta. Thưa các ngài, các ngài đã được ta bảo vệ. Xin hãy đi đến nơi nào tùy ý một cách an toàn.’”
1264.
1264.
1264.
‘‘Gantvā mayaṃ sindhusovīrabhūmiṃ, dhanatthikā uddayaṃ patthayānā;
Yathāpayogā paripuṇṇacāgā, kāhāma serīsamahaṃ uḷāra’’nti.
“Having gone to the land of Sindhu and Sovīra, desiring wealth and aspiring for gain, with effort according to our undertaking and with complete generosity, we shall hold the great Serīsaka festival.”
“‘Sau khi đến xứ Sindhu-Sovīra, chúng tôi, những người tìm cầu tài sản và mong muốn lợi nhuận, với sự nỗ lực thích đáng và lòng quảng đại viên mãn, sẽ tổ chức một lễ hội lớn để cúng dường ngài Serīsaka.’”
1265.
1265.
1265.
‘‘Mā ceva serīsamahaṃ akattha, sabbañca vo bhavissati yaṃ vadetha;
Pāpāni kammāni vivajjayātha, dhammānuyogañca adhiṭṭhahātha.
“Do not hold the Serīsaka festival; and everything that you say will come to be for you. Avoid evil actions, and undertake devotion to the Dhamma.
“‘Xin đừng tổ chức lễ hội cho Serīsaka. Mọi điều các ngài nói sẽ thành tựu. Hãy tránh xa các nghiệp ác, và hãy quyết tâm thực hành Chánh pháp.’”
1266.
1266.
1266.
‘‘Upāsako atthi imamhi saṅghe, bahussuto sīlavatūpapanno;
Saddho ca cāgī ca supesalo ca, vicakkhaṇo santusito mutīmā.
“There is a lay follower in this assembly who is very learned and endowed with virtue; he is faithful, generous, amiable, discerning, contented, and wise.
“‘Trong đoàn này có một vị cận sự nam, bậc đa văn, đầy đủ giới hạnh; có tín tâm, quảng đại, và hòa ái; lại sáng suốt, biết đủ, và có trí tuệ.’”
1267.
1267.
1267.
‘‘Sañjānamāno na musā bhaṇeyya, parūpaghātāya na cetayeyya;
Vebhūtikaṃ pesuṇaṃ no kareyya, saṇhañca vācaṃ sakhilaṃ bhaṇeyya.
“Knowingly, he would not speak falsely; he would not intend harm to others. He would not engage in divisive, slanderous speech; he would speak words that are gentle and amiable.
“‘Vị ấy biết rõ mà không nói dối, không có tâm hãm hại người khác; không nói lời đâm thọc gây chia rẽ, chỉ nói lời ôn hòa và thân ái.’”
1268.
1268.
1268.
‘‘Sagāravo sappaṭisso vinīto, apāpako adhisīle visuddho;
So mātaraṃ pitarañcāpi jantu, dhammena poseti ariyavutti.
“Respectful, deferential, disciplined, without evil, and purified in higher virtue, that being righteously supports his mother and father, living a noble livelihood.
“‘Vị ấy có lòng tôn kính, biết vâng lời, được khéo huấn luyện, không làm điều ác, trong sạch trong tăng thượng giới. Chúng sanh ấy nuôi dưỡng cha mẹ một cách đúng pháp, có đời sống cao thượng.’”
1269.
1269.
1269.
‘‘Maññe so mātāpitūnaṃ kāraṇā, bhogāni pariyesati na attahetu;
Mātāpitūnañca yo † accayena, nekkhammapoṇo carissati brahmacariyaṃ.
“I believe he seeks wealth for his parents’ sake, not for his own. And after his parents’ passing, inclined to renunciation, he will practice the holy life.
“‘Ta nghĩ rằng vị ấy tìm kiếm tài sản là vì cha mẹ, chứ không phải vì bản thân. Và sau khi cha mẹ qua đời, với tâm hướng về xuất ly, vị ấy sẽ thực hành phạm hạnh.’”
1270.
1270.
1270.
‘‘Ujū avaṅko asaṭho amāyo, na lesakappena ca vohareyya;
So tādiso sukatakammakārī, dhamme ṭhito kinti labhetha dukkhaṃ.
“Upright, not crooked, not fraudulent, not deceitful, he would not engage in dealings with even a trifle of pretext. How could such a one, a doer of good deeds established in the Dhamma, obtain suffering?
“‘Vị ấy ngay thẳng, không cong vẹo, không xảo trá, không gian dối, và không hành xử với mưu mẹo. Một người như vậy, làm các nghiệp lành, an trú trong Chánh pháp, làm sao có thể gặp đau khổ?’”
1271.
1271.
1271.
‘‘Taṃ kāraṇā pātukatomhi attanā, tasmā dhammaṃ passatha vāṇijāse;
Aññatra teniha bhasmī † bhavetha, andhākulā vippanaṭṭhā araññe;
Taṃ khippamānena lahuṃ parena, sukho have sappurisena saṅgamo’’ti.
“For his sake, I have manifested myself. Therefore, O merchants, behold the Dhamma! Without him, you would have become ashes here, blinded, confused, and lost in the wilderness, swiftly afflicted by this danger and by others. Truly, association with a good person is happiness.”
“‘Chính vì vị ấy mà ta đã tự mình hiện ra. Vì vậy, hỡi các thương nhân, hãy thấy Chánh pháp. Nếu không có vị ấy, các ngài đã trở thành tro bụi ở đây, mù lòa, hoang mang, lạc lối trong hoang địa. Bị nguy hiểm này hay nguy hiểm khác nhanh chóng áp đảo. Thật vậy, giao du với bậc chân nhân là một điều hạnh phúc.’”
1272.
1272.
1272.
‘‘Kiṃ nāma so kiñca karoti kammaṃ,
Kiṃ nāmadheyyaṃ kiṃ pana tassa gottaṃ;
Mayampi naṃ daṭṭhukāmamha yakkha, yassānukampāya idhāgatosi;
Lābhā hi tassa, yassa tuvaṃ pihesī’’ti.
“What is his name, and what work does he do? What is his designation, and what, then, is his clan? We too wish to see him, O yakkha, for whom you have come here out of compassion. It is indeed a gain for him whom you cherish.”
“‘Vị ấy tên là gì, làm nghề gì? Tên hiệu của vị ấy là gì, và thuộc dòng họ nào? Thưa dạ-xoa, chúng tôi cũng muốn được gặp vị ấy, người mà vì lòng bi mẫn ngài đã đến đây. Thật là một lợi ích lớn cho người mà ngài quý mến.’”
1273.
1273.
1273.
‘‘Yo kappako sambhavanāmadheyyo,
Upāsako kocchaphalūpajīvī;
Jānātha naṃ tumhākaṃ pesiyo so,
Mā kho naṃ hīḷittha supesalo so’’ti.
“The lay follower who is a barber, named Sambhava, who makes his living by his craft; know him, he is your attendant. Do not despise him, for he is very amiable.”
‘Vị thợ hớt tóc tên là Sambhava, là người cận sự nam sống bằng nghề (liên quan đến) ghế và bàn; các ông hãy biết người ấy là người phục vụ của các ông. Chớ có khinh miệt người ấy, người ấy rất yêu mến giới hạnh.’
1274.
1274.
1274.
‘‘Jānāmase yaṃ tvaṃ pavadesi † yakkha,
Na kho naṃ jānāma sa edisoti;
Mayampi naṃ pūjayissāma yakkha,
Sutvāna tuyhaṃ vacanaṃ uḷāra’’nti.
“We know him of whom you speak, O yakkha, but indeed we did not know that he was such a person. We too shall honor him, O yakkha, having heard your excellent words.”
‘Này dạ xoa, chúng tôi biết người mà ngài nói đến, nhưng chúng tôi không biết người ấy có (phẩm hạnh) như vậy. Này dạ xoa, sau khi đã nghe lời nói cao quý của ngài, chúng tôi cũng sẽ cúng dường người ấy.’
1275.
1275.
1275.
‘‘Ye keci imasmiṃ satthe manussā,
Daharā mahantā athavāpi majjhimā;
Sabbeva te ālambantu vimānaṃ,
Passantu puññānaṃ phalaṃ kadariyā’’ti.
“Whoever the people are in this caravan—young, old, or middle-aged—let all of them ascend the celestial mansion. Let the stingy behold the fruit of meritorious deeds!”
‘Bất cứ người nào trong đoàn thương buôn này, dù trẻ, dù già, hoặc là trung niên, tất cả họ hãy đi lên thiên cung. Những người keo kiệt hãy nhìn xem quả của phước báu.’
1276.
1276.
1276.
Te tattha sabbeva ‘ahaṃ pure’ti,
Taṃ kappakaṃ tattha purakkhatvā †;
Sabbeva te ālambiṃsu vimānaṃ,
Masakkasāraṃ viya vāsavassa.
There, all of them, saying, “I first!”, placed that barber at the front. All of them ascended the celestial mansion, which was like the Masakkasāra palace of Vāsava.
Tại nơi ấy, tất cả họ (nói rằng): ‘Tôi trước,’ và tại nơi ấy, sau khi để người thợ hớt tóc ấy đi trước, tất cả họ đã đi lên thiên cung, giống như (thiên cung) Masakkasāra của vị Vāsava.
1277.
1277.
1277.
Te tattha sabbeva ‘ahaṃ pure’ti, upāsakattaṃ paṭivedayiṃsu;
Pāṇātipātā viratā ahesuṃ, loke adinnaṃ parivajjayiṃsu;
Amajjapā no ca musā bhaṇiṃsu, sakena dārena ca ahesuṃ tuṭṭhā.
There, all of them, saying, “I first!”, declared their status as lay followers. They abstained from the destruction of life; they avoided taking what is not given in the world; they did not drink intoxicants nor did they speak falsely; and they were content with their own wives.
Tại nơi ấy, tất cả họ (nói rằng): ‘Tôi trước,’ và đã tuyên bố (thọ trì) phận sự của người cận sự nam. Họ đã trở thành những người từ bỏ sát sanh, ở đời họ đã tránh xa sự lấy của không cho. Họ không uống rượu và không nói dối, và họ đã trở thành những người hài lòng với vợ của mình.
1278.
1278.
1278.
Te tattha sabbeva ‘ahaṃ pure’ti, upāsakattaṃ paṭivedayitvā;
Pakkāmi sattho anumodamāno, yakkhiddhiyā anumato punappunaṃ.
There, all of them, saying, “I first!”, and having declared their status as lay followers, the caravan departed, rejoicing, having been repeatedly permitted by the yakkha’s spiritual power.
Tại nơi ấy, tất cả họ (nói rằng): ‘Tôi trước,’ sau khi đã tuyên bố (thọ trì) phận sự của người cận sự nam, đoàn thương buôn đã ra đi, được dạ xoa cho phép, và đã tùy hỷ nhiều lần năng lực của dạ xoa.
1279.
1279.
1279.
‘‘Gantvāna te sindhusovīrabhūmiṃ, dhanatthikā uddayaṃ † patthayānā;
Yathāpayogā paripuṇṇalābhā, paccāgamuṃ pāṭaliputtamakkhataṃ.
Having gone to the land of Sindhu and Sovīra, desiring wealth and aspiring for gain, with complete gains according to their efforts, they returned to Pāṭaliputta unharmed.
‘Họ, những người mong muốn tài sản, cầu mong lợi nhuận, sau khi đã đi đến xứ Sindhu-Sovīra, với sự nỗ lực tương xứng, đã có được lợi nhuận đầy đủ, và đã trở về thành Pāṭaliputta một cách an toàn.
1280.
1280.
1280.
‘‘Gantvāna te saṅgharaṃ sotthivanto,
Puttehi dārehi samaṅgibhūtā;
Ānandī vittā † sumanā patītā,
Akaṃsu serīsamahaṃ uḷāraṃ;
Serīsakaṃ te pariveṇaṃ māpayiṃsu.
Having returned safely to their own homes and reunited with their children and wives, joyful, delighted, glad-minded, and pleased, they held a great Serīsaka festival and had a monastic dwelling for Serīsaka built.
‘Họ, những người an toàn, sau khi đã đi về nhà của mình, đã đoàn tụ với con cái và vợ. Vui mừng, hoan hỷ, ý đẹp, phấn khởi, họ đã thực hiện lễ hội cúng dường lớn lao cho Serīsaka; họ đã cho xây dựng một tu viện (đền thờ) cho Serīsaka.
1281.
1281.
1281.
Etādisā sappurisāna sevanā,
Mahatthikā dhammaguṇāna sevanā;
Ekassa atthāya upāsakassa,
Sabbeva sattā sukhitā † ahesunti.
Such is association with good people; of great benefit is the cultivation of the qualities of the Dhamma. For the sake of one lay follower, all beings became happy.
Việc thân cận với bậc chân nhân là như vậy, việc thực hành các phẩm chất của Giáo Pháp có lợi ích lớn lao. Vì lợi ích của một người cận sự nam, tất cả chúng sanh đã được an lạc.
Serīsakavimānaṃ dasamaṃ.
The Serīsaka Celestial Mansion, the tenth.
Thiên cung của Serīsaka, (phẩm) thứ mười.