Bản dịch
VV 83 — Thiên Cung của Maṭṭakuṇḍalī
9. Maṭṭhakuṇḍalīvimānavatthu
BJT 1209“Ngươi đã được trang điểm, có bông tai đã được đánh bóng, có mang tràng hoa, có bôi xức trầm hương màu vàng, sau khi giơ hai cánh tay lên rồi than khóc ở giữa khu rừng, ngươi bị khổ đau điều gì?”
BJT 1210“Khung xe làm bằng vàng, rực rỡ, được phát sanh lên cho tôi. Tôi không tìm ra cặp bánh xe cho nó. Vì nỗi khổ đau ấy, tôi sẽ từ bỏ mạng sống.”
BJT 1211“Nó làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng hồng ngọc, hay làm bằng bạc? Này người thanh niên hiền thiện, ngươi hãy nói với ta. Ta sẽ giúp cho ngươi đạt được cặp bánh xe.”
BJT 1212Người thanh niên ấy đã nói với ông ấy rằng: “Ở đây, mặt trăng và mặt trời được nhìn thấy; cỗ xe của tôi, làm bằng vàng, được chói sáng với cặp bánh xe ấy.”
BJT 1213“Này người thanh niên, ngươi quả thật cũng khờ dại, ngươi mong mỏi vật không thể mong mỏi. Ta nghĩ rằng ngươi sẽ chết bởi vì ngươi sẽ không đạt được mặt trăng và mặt trời.”
BJT 1214“Việc đi và đến (của mặt trăng và mặt trời) còn được nhìn thấy. Ở đây, màu sắc và bản chất của cả hai là theo trình tự. Trái lại, người chết, đã qua đời, không được nhìn thấy. Vậy ở đây, trong hai người đang khóc lóc, người nào khờ dại hơn?”
BJT 1215“Này người thanh niên, quả nhiên ngươi nói đúng sự thật. Trong hai người đang khóc lóc, chính ta là khờ dại hơn. Ta đang mong mỏi người chết, đã qua đời, ví như đứa bé trai đang khóc đòi mặt trăng.
BJT 1216Quả thật, trong khi tôi đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, người ấy có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
BJT 1217Khi tôi bị sầu muộn chế ngự, người nào đã xua đi nỗi sầu muộn về người con trai của tôi, người ấy quả thật đã rút ra mũi tên sầu muộn đã cắm vào trái tim của tôi.
BJT 1218Chính tôi đây, có mũi tên đã được rút ra, có trạng thái mát lạnh, đã được an tịnh. Này người thanh niên, sau khi lắng nghe ngươi tôi không sầu muộn, không khóc lóc.
BJT 1219Phải chăng ngươi là Thiên nhân, là nhạc sĩ Thiên đình, hay là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây? Ngươi là ai, hay là con trai của ai, làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết ngươi?”
BJT 1220“Đứa con trai nào mà ông đã tự mình thiêu đốt ở nơi hỏa táng, rồi than vãn và khóc lóc, người ấy chính là tôi; sau khi làm việc thiện, tôi đã đạt đến sự cộng trú ở cõi Ba Mươi (Ba).”
BJT 1221“Chúng tôi đã không nhìn thấy vật thí ít hay nhiều của ngươi trong khi ngươi bố thí ở nhà mình, hay việc làm vào ngày trai giới tương tự như thế ấy; do nghiệp nào mà ngươi đã đi đến thế giới của chư Thiên?”
BJT 1222“Tôi là người có bệnh, bị khổ sở, là người bệnh, có dáng vóc bệnh hoạn ở trong căn nhà của mình. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc đã xa lìa ô nhiễm, vị đã vượt qua hoài nghi, đấng Thiện Thệ, có trí tuệ tuyệt vời.
BJT 1223Chính tôi đây, với ý vui mừng, với tâm tịnh tín, đã thực hiện việc chắp tay đến đức Như Lai. Sau khi làm việc thiện ấy, tôi đã đạt đến sự cộng trú ở cõi Ba Mươi (Ba).”
BJT 1224“Thật là kỳ diệu, phi thường! Quả thành tựu này của việc chắp tay là như thế. Tôi cũng vậy, với ý vui mừng, với tâm tịnh tín, tôi đi đến nương nhờ đức Phật ngay ngày hôm nay.”
BJT 1225“Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín ông hãy đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, ông hãy thọ trì năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.
BJT 1226Ông hãy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hãy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hãy vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
BJT 1227“Thưa vị Dạ-xoa, ngài là người mong mỏi sự tốt đẹp cho tôi. Thưa vị Thiên nhân, ngài là người mong mỏi sự lợi ích cho tôi. Tôi thực hành lời nói của ngài; ngài là thầy dạy học của tôi.
BJT 1228Tôi đi đến nương nhờ đức Phật, luôn cả Giáo Pháp vô thượng, và tôi đi đến nương nhờ Hội Chúng thuộc về vị Trời của nhân loại.
BJT 1229Tôi lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, tôi xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và tôi không nói lời dối trá, và tôi vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
Thiên Cung của Maṭṭakuṇḍalī.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Maṭṭhakuṇḍalīvimānavatthu
9. The Story of the Maṭṭhakuṇḍalī Mansion
9. Câu chuyện về Thiên cung của Maṭṭhakuṇḍalī
1207.
1207.
1207.
1217.
1217.
1217.
‘‘Devatā nusi gandhabbo, adu † sakko purindado;
Ko vā tvaṃ kassa vā putto, kathaṃ jānemu taṃ maya’’nti.
Are you a deity, or a gandhabba, or else Sakka, the Giver in Former Times? Who are you, and whose son? How may we know you?
Ngươi có phải là thiên nhân, hay là càn-thát-bà, hay là Sakka (Đế-thích), người ban thí vật thời xưa? Ngươi là ai, là con của ai? Làm sao chúng tôi có thể biết được ngươi?
1218.
1218.
1218.
‘‘Yañca † kandasi yañca rodasi, puttaṃ āḷāhane sayaṃ dahitvā;
Svāhaṃ kusalaṃ karitvā kammaṃ, tidasānaṃ sahabyataṃ gato’’ti †.
The son for whom you wail and weep, having burned him yourself on the funeral pyre—I am he. Having done a wholesome deed, I have gone to the companionship of the devas of the Thirty-three.
Người con trai mà ông than khóc, người con trai mà ông kêu la, sau khi đã tự tay hỏa thiêu ở nơi hỏa táng. Chính tôi là người đó, đã làm nghiệp lành, nên được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên Tam Thập Tam.
1219.
1219.
1219.
‘‘Appaṃ vā bahuṃ vā nāddasāma, dānaṃ dadantassa sake agāre;
Uposathakammaṃ vā † tādisaṃ, kena kammena gatosi devaloka’’nti.
We did not see you giving any gift in your own home, whether small or great, nor any such observance of the Uposatha. By what deed have you gone to the deva world?
Này chàng thanh niên, chúng tôi không thấy con bố thí, dù ít hay nhiều, tại nhà riêng của mình; cũng không thấy con thực hành phận sự Uposatha (trai giới) tương tự. Do nghiệp gì mà con được sanh về cõi trời?
1220.
1220.
1220.
‘‘Ābādhikohaṃ dukkhito gilāno, āturarūpomhi sake nivesane;
Buddhaṃ vigatarajaṃ vitiṇṇakaṅkhaṃ, addakkhiṃ sugataṃ anomapaññaṃ.
I was afflicted, suffering, and ill, in a state of agony in my own home. I saw the Buddha, free from dust, who had crossed over doubt, the Well-Gone One of noble wisdom.
Thưa Bà-la-môn, con đã bị bệnh, đau khổ, ốm yếu, thân thể quằn quại tại nhà riêng của mình. Con đã được thấy Đức Phật, bậc đã sạch bụi trần, đã vượt qua hoài nghi, bậc Thiện Thệ, có trí tuệ không giới hạn.
1221 .
1221 .
1221.
‘‘Svāhaṃ muditamano pasannacitto, añjaliṃ akariṃ tathāgatassa;
Tāhaṃ kusalaṃ karitvāna kammaṃ, tidasānaṃ sahabyataṃ gato’’ti.
I, with a gladdened mind and a serene heart, paid homage with raised hands to the Tathāgata. Having done that wholesome deed, I have gone to the companionship of the devas of the Thirty-three.
Với tâm hoan hỷ, với lòng trong sạch, con đã chắp tay vái lạy Đức Như Lai. Do đã làm nghiệp lành ấy, con được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên Tam Thập Tam.
1222.
1222.
1222.
‘‘Acchariyaṃ vata abbhutaṃ vata, añjalikammassa ayamīdiso vipāko;
Ahampi muditamano pasannacitto, ajjeva buddhaṃ saraṇaṃ vajāmī’’ti.
How wonderful, indeed! How marvelous, indeed, that such is the fruit of an act of homage! I too, with a gladdened mind and a serene heart, will this very day go for refuge to the Buddha.
Thật kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay! Việc chắp tay lại có quả báo như thế này. Ta cũng với tâm hoan hỷ, với lòng trong sạch, ngay hôm nay xin quy y Phật.
1223.
1223.
1223.
‘‘Ajjeva buddhaṃ saraṇaṃ vajāhi, dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāya padāni pañca, akhaṇḍaphullāni samādiyassu.
This very day, with a serene mind, go for refuge to the Buddha, the Dhamma, and the Saṅgha. In the same way, undertake the five training precepts, making them unbroken and unblemished.
Ngay hôm nay, với lòng trong sạch, ông hãy quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng. Cũng như vậy, hãy thọ trì năm học giới, không bị sứt mẻ, không bị vi phạm.
1224.
1224.
1224.
‘‘Pāṇātipātā viramassu khippaṃ, loke adinnaṃ parivajjayassu;
Amajjapo mā ca musā bhaṇāhi, sakena dārena ca hohi tuṭṭho’’ti.
Quickly abstain from the destruction of life; in the world, avoid taking what is not given; be not a drinker of intoxicants, and do not speak falsely; and be content with your own wife.
Hãy nhanh chóng từ bỏ sát sanh, hãy tránh xa việc lấy của không cho ở trên đời. Chớ nên uống rượu, và chớ nói dối. Và hãy biết đủ với vợ của mình.
1225.
1225.
1225.
‘‘Atthakāmosi me yakkha, hitakāmosi devate;
Karomi tuyhaṃ vacanaṃ, tvaṃsi ācariyo mamāti.
You are one who desires my welfare, O yakkha; you are one who desires my benefit, O deity. I will do your bidding; you are my teacher.
“Hỡi vị Dạ-xoa, ngài là người mong cầu lợi ích cho tôi, hỡi vị Thiên Thần, ngài là người mong cầu sự tốt đẹp cho tôi. Tôi sẽ thực hành lời dạy của ngài, ngài là vị thầy của tôi.”
1226.
1226.
1226.
‘‘Upemi saraṇaṃ buddhaṃ, dhammañcāpi anuttaraṃ;
Saṅghañca naradevassa, gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
I go for refuge to the Buddha, and also to the unsurpassed Dhamma; I go for refuge to the Saṅgha of the god among men.
Con xin quy y Phật, và quy y Pháp vô thượng. Con xin quy y Tăng của bậc Thiên Nhân Sư.
1227.
1227.
1227.
‘‘Pāṇātipātā viramāmi khippaṃ, loke adinnaṃ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi, sakena dārena ca homi tuṭṭho’’ti.
Quickly I abstain from the destruction of life; I avoid taking what is not given in the world; I am not a drinker of intoxicants, nor do I speak falsely; and I am content with my own wife.
Con nhanh chóng từ bỏ sát sanh, con tránh xa việc lấy của không cho ở trên đời. Con không uống rượu, và không nói dối. Và con biết đủ với vợ của mình.
Maṭṭhakuṇḍalīvimānaṃ navamaṃ.
The Ninth: The Maṭṭhakuṇḍalī Mansion.
Thiên cung Maṭṭhakuṇḍalī, phẩm thứ chín.