Bản dịch
VV 85 — Thiên Cung Khéo Đặt Xuống
11. Sunikkhittavimānavatthu
BJT 1284“Thiên cung này cao, có cây trụ chống bằng ngọc ma-ni, ở xung quanh mười hai do-tuần, có bảy trăm ngôi nhà mái nhọn cao sang với các cây cột làm bằng ngọc bích, được trải lót bằng vàng, xinh đẹp.
BJT 1285Ở nơi ấy, ngươi trú ngụ, ngươi uống, và ngươi ăn. Có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào, có các vị nếm thuộc cõi Trời, ở đây có năm loại dục lạc, và có các phụ nữ trang phục bằng vàng nhảy múa.
BJT 1286Do điều gì ngươi có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho ngươi ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho ngươi?
BJT 1287Hỡi Thiên nhân có đại oai lực, ta hỏi ngươi: ‘Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 1288Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1289“Sau khi khéo đặt xuống tràng hoa đã được đặt xuống cẩu thả, sau khi sắp đặt nó ở ngôi bảo tháp của đấng Thiện Thệ, tôi trở nên có đại thần lực và có đại oai lực, được thọ hưởng các dục ở cõi Trời.
BJT 1290Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1291Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Khéo Đặt Xuống.
Phẩm Khéo Đặt Xuống là thứ bảy.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
(Chuyện) hai người nghèo khó, hai trú xá, kẻ làm thuê, người chăn bò, con ngựa Kanthaka, (Thiên cung) nhiều màu sắc, Maṭṭakuṇḍalī, Serissaka, (Thiên cung) khéo đặt xuống; là phẩm thứ ba của những người nam.”
TỤNG PHẨM THỨ TƯ.
CHUYỆN THIÊN CUNG ĐƯỢC CHẤM DỨT.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
11. Sunikkhittavimānavatthu
11. The Story of the Well-Placed Celestial Mansion
11. Câu chuyện về Thiên cung Sunikkhitta (Sắp Đặt Tốt Đẹp)
1282.
1282.
1282.
‘‘Uccamidaṃ maṇithūṇaṃ vimānaṃ, samantato dvādasa yojanāni;
Kūṭāgārā sattasatā uḷārā, veḷuriyathambhā rucakatthatā subhā.
“High is this celestial mansion with jeweled pillars, twelve yojanas all around. Seven hundred spacious gabled halls with beryl pillars, spread with gold, are beautiful.
‘Thiên cung này cao lớn, có các cột trụ bằng ngọc, rộng mười hai do-tuần khắp bốn phía. Có bảy trăm lầu gác nguy nga, với các cột trụ bằng ngọc lưu ly, được lát bằng vàng, thật lộng lẫy.
1283.
1283.
1283.
‘‘Tatthacchasi pivasi khādasi ca, dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṃ;
Dibbā rasā kāmaguṇettha pañca, nāriyo ca naccanti suvaṇṇachannā.
“There you dwell, you drink and you eat, and celestial lutes sound sweetly. Here the five kinds of celestial sensual pleasures are found, and celestial maidens, adorned with gold, dance.
‘Tại nơi ấy, ngài ở, ngài uống, và ngài ăn, và các cây đàn tỳ-bà của chư thiên vang lên những âm thanh ngọt ngào. Tại đây có năm loại dục lạc của chư thiên, và các tiên nữ được trang sức bằng vàng đang nhảy múa.
1284.
1284.
1284.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
“By what cause is your complexion like this? By what cause do you prosper here? And by what cause do all those enjoyments arise for you that are dear to the mind?
‘Do (nghiệp) gì mà ngài có dung sắc như vậy? Do (nghiệp) gì mà ngài thành công ở đây? Và do (nghiệp) gì mà các tài sản, bất cứ thứ gì làm hài lòng tâm ý, sanh khởi cho ngài?
1285.
1285.
1285.
‘‘Pucchāmi ‘taṃ deva mahānubhāva, manussabhūto kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvo, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“I ask you, O deva of great power: when you were a human being, what merit did you perform? By what cause are you of such blazing power, and by what cause does your complexion illuminate all directions?”
‘Tôi hỏi ngài, thưa vị thiên tử có đại oai lực, khi là người, ngài đã làm phước báu gì? Do (nghiệp) gì mà ngài có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương?’
1286.
1286.
1286.
So devaputto attamano, moggallānena pucchito;
Pañhaṃ puṭṭho viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devaputta, pleased in mind, being questioned by Moggallāna, answered the question he was asked, explaining of which deed this was the fruit.
Vị thiên tử ấy, với tâm hoan hỷ, được ngài Moggallāna hỏi, đã trả lời câu hỏi được hỏi về nghiệp nào mà có quả này.
1287.
1287.
1287.
‘‘Dunnikkhittaṃ mālaṃ sunikkhipitvā, patiṭṭhapetvā sugatassa thūpe;
Mahiddhiko camhi mahānubhāvo, dibbehi kāmehi samaṅgibhūto.
“Having well-placed and properly set a badly placed garland upon the stupa of the Sugata, I am of great psychic power and great might, endowed with celestial sensual pleasures.
‘Do đã sắp đặt lại cho tốt đẹp vòng hoa bị đặt một cách cẩu thả, và đã an vị nó trên bảo tháp của bậc Thiện Thệ, tôi có thần lực lớn, có oai lực lớn, và được đầy đủ các dục lạc của chư thiên.
1288.
1288.
1288.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo,
Tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā,
Ye keci manaso piyā.
“By that cause, my complexion is like this; by that cause, I prosper here; and by that cause, all enjoyments that are dear to the mind arise for me.
‘Do (nghiệp) ấy mà tôi có dung sắc như vậy, do (nghiệp) ấy mà tôi thành công ở đây. Và do (nghiệp) ấy mà các tài sản, bất cứ thứ gì làm hài lòng tâm ý, sanh khởi cho tôi.
1289.
1289.
1289.
‘‘Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva,
Manussabhūto yamahaṃ akāsiṃ;
Tenamhi evaṃ jalitānubhāvo,
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“I declare to you, O bhikkhu of great power, the merit I performed when I was a human being. By that cause, I am of such blazing power, and my complexion illuminates all directions.”
‘Thưa Tỳ khưu có đại oai lực, tôi sẽ nói cho ngài về việc tôi đã làm khi là người. Do (nghiệp) ấy mà tôi có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương.’
Sunikkhittavimānaṃ ekādasamaṃ.
The Sunikkhitta Celestial Mansion, the eleventh.
Thiên cung Sunikkhitta, (phẩm) thứ mười một.
Sunikkhittavaggo sattamo niṭṭhito.
The seventh Sunikkhitta Chapter is concluded.
Phẩm Sunikkhitta, thứ bảy, đã kết thúc.
Tassuddānaṃ –
The summary verse for this is:
Tóm lược của phẩm ấy:
Dve daliddā vanavihārā, bhatako gopālakaṇḍakā;
Anekavaṇṇamaṭṭhakuṇḍalī, serīsako sunikkhittaṃ;
Purisānaṃ tatiyo vaggo pavuccatīti.
Two Poor Men, Forest Dweller, Hired Man, Cowherd, Kaṇḍaka, Anekavaṇṇa, Maṭṭhakuṇḍalī, Serīsaka, and Sunikkhitta: this is called the third chapter concerning men.
Hai (chuyện) Dalidda, Vanavihāra, Bhataka, Gopāla, Kaṇḍaka; Anekavaṇṇa, Maṭṭhakuṇḍalī, Serīsaka, Sunikkhitta. Phẩm thứ ba của các nam nhân được nói đến.
Bhāṇavāraṃ catutthaṃ niṭṭhitaṃ.
The fourth recitation section is concluded.
Phần tụng đọc thứ tư đã kết thúc.
The Pāḷi text of the Vimānavatthu is concluded.
Kinh Pāli về Câu chuyện Thiên cung đã kết thúc.