Bản dịch
VV 82 — Thiên Cung Nhiều Màu Sắc
8. Anekavaṇṇavimānavatthu
BJT 1200“Sau khi đã đạt đến Thiên cung được tô điểm theo nhiều cách, có nhiều màu sắc, có sự tiêu diệt nỗi buồn bực và sầu muộn, ngươi được tùy tùng bởi đoàn tiên nữ, vui sướng tựa như Sunimmita, vị chúa tể của chúng sinh.
BJT 1201Không có vị sánh bằng như vậy; hơn nữa người vượt trội về danh tiếng, phước báu, và thần thông thì từ đâu mà có?
BJT 1202Và tất cả chư Thiên, các nhóm ở cõi Ba Mươi (Ba), sau khi tụ hội lại sẽ lễ bái ngươi đây, tựa như chư Thiên lễ bái mặt trăng. Và ngươi có các tiên nữ này nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển ở xung quanh.
BJT 1203Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1204Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1205“Thưa ngài đại đức, vào thời quá khứ tôi đã là đệ tử của đấng Chiến Thắng tên Sumedha. Tôi còn là phàm nhân, chưa được giác ngộ; tôi đây đã xuất gia bảy năm.
BJT 1206Lúc đấng Chiến Thắng, bậc Đạo Sư Sumedha, vị đã vượt qua các dòng lũ như thế ấy, viên tịch Niết Bàn, tôi đây, sau khi đảnh lễ khối châu báu được che phủ bởi mạng lưới bằng vàng, đã làm cho tâm ý được tịnh tín ở ngôi bảo tháp.
BJT 1207Sự bố thí của tôi là không có, tôi không có gì để bố thí. Tuy nhiên, tại nơi ấy tôi đã khuyến khích những người khác rằng: ‘Quý vị hãy cúng dường xá-lợi ấy của bậc xứng đáng cúng dường, như vậy nghe nói quý vị sẽ từ nơi đây đi đến cõi Trời.’
BJT 1208Chính nghiệp thiện ấy đã được tạo ra bởi tôi. Và tôi thụ hưởng sự an lạc thuộc cõi Trời bởi chính bản thân. Tôi vui sướng giữa nhóm (chư Thiên) ở cõi Ba Mươi (Ba). Tôi còn chưa đi đến sự cạn kiệt của phước báu ấy.”
Thiên Cung Nhiều Màu Sắc.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
8. Anekavaṇṇavimānavatthu
8. The Story of the Mansion of Many Colors
8. Câu chuyện về Thiên cung Nhiều Màu Sắc
1199.
1199.
1199.
‘‘Anekavaṇṇaṃ darasokanāsanaṃ, vimānamāruyha anekacittaṃ;
Parivārito accharāsaṅgaṇena, sunimmito bhūtapatīva modasi.
“Having ascended the mansion of many colors, of diverse patterns, which dispels distress and sorrow; surrounded by a host of celestial nymphs, you rejoice like Sunimmita, the lord of beings.
“Ngươi an hưởng trong thiên cung nhiều màu sắc, nhiều vẻ kỳ diệu, nơi xua tan phiền muộn sầu bi. Được đoàn thiên nữ vây quanh, ngươi hoan hỷ như vua trời Sunimmita, chúa tể của chúng sanh.
1200.
1200.
1200.
‘‘Samassamo natthi kuto panuttaro †, yasena puññena ca iddhiyā ca;
Sabbe ca devā tidasagaṇā samecca, taṃ taṃ namassanti sasiṃva devā;
Imā ca te accharāyo samantato, naccanti gāyanti pamodayanti.
There is none your equal—whence one superior?—in fame, merit, and power. All the devas, the hosts of the Thirty-three, having assembled, pay homage to you, just as devas do to the moon. And these celestial nymphs of yours, all around, dance, sing, and cause you to rejoice.
“Về danh vọng, phước đức và thần lực, không ai bằng ngươi, huống chi là hơn? Tất cả chư thiên trong hội chúng Ba Mươi Ba đều tụ hội lại, đảnh lễ ngươi như chư thiên đảnh lễ mặt trăng. Và các thiên nữ này của ngươi, ở khắp xung quanh, đang ca múa và làm cho ngươi vui thích.
1201.
1201.
1201.
‘‘Deviddhipattosi mahānubhāvo, manussabhūto kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvo, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
You have attained divine power and are of great might. When you were a human being, what merit did you perform? By what are you of such blazing power, and by what does your complexion illuminate all directions?
“Ngươi đã đạt được thần lực của chư thiên, có oai lực lớn lao. Khi còn là người, ngươi đã làm phước gì? Do đâu ngươi có oai lực rực rỡ như vậy, và sắc tướng của ngươi tỏa sáng khắp mọi phương?”
1202.
1202.
1202.
So devaputto attamano…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devaputta, with a delighted mind, being asked the question by Moggallāna, explained the deed of which this is the fruit.
Vị thiên tử ấy, lòng đầy hoan hỷ... (đã giải thích) nghiệp nào đã đưa đến quả này.
1203.
1203.
1203.
‘‘Ahaṃ bhadante ahuvāsi pubbe, sumedhanāmassa jinassa sāvako;
Puthujjano ananubodhohamasmi †, so satta vassāni paribbajissahaṃ †.
Venerable sir, formerly I was a disciple of the Jina named Sumedha. I was an unawakened worldling; for seven years I lived the homeless life.
“Bạch ngài, thuở trước, tôi là một vị thinh văn của đức Phật Chiến Thắng tên là Sumedha. Tôi là một phàm phu, chưa giác ngộ, và tôi đã xuất gia trong bảy năm.
1204.
1204.
1204.
‘‘Sohaṃ sumedhassa jinassa satthuno, parinibbutassoghatiṇṇassa tādino;
Ratanuccayaṃ hemajālena channaṃ, vanditvā thūpasmiṃ manaṃ pasādayiṃ.
I paid homage to the stūpa of the Teacher Sumedha, the Jina, who had attained final Nibbāna, crossed the flood, and was Such-like—a stūpa piled with gems and covered with a golden net—and at that stūpa, I gladdened my mind.
“Tôi đã đảnh lễ bảo tháp của đức Sumedha, bậc Chiến Thắng, Đạo Sư, đấng đã nhập Niết-bàn, vượt qua bộc lưu, bậc như thế. Bảo tháp ấy được xây bằng châu báu, phủ lưới vàng, và tôi đã làm cho tâm ý thanh tịnh nơi bảo tháp.
1205.
1205.
1205.
‘‘Na māsi dānaṃ na ca matthi dātuṃ, pare ca kho tattha samādapesiṃ;
Pūjetha naṃ pūjanīyassa † dhātuṃ, evaṃ kira saggamito gamissatha.
I had no gift, nor was there anything for me to give, but I encouraged others there, saying: ‘Venerate the relics of the one worthy of veneration; thus, it is said, you will go from here to heaven.’
“Tôi đã không bố thí, cũng không có gì để cho. Nhưng tôi đã khuyến khích những người khác rằng: ‘Hãy cúng dường xá-lợi của bậc đáng cúng dường. Làm như vậy, từ đây các vị sẽ được sanh về cõi trời.’
1206.
1206.
1206.
‘‘Tadeva kammaṃ kusalaṃ kataṃ mayā, sukhañca dibbaṃ anubhomi attanā;
Modāmahaṃ tidasagaṇassa majjhe, na tassa puññassa khayampi ajjhaga’’nti.
That very wholesome deed was done by me, and I myself experience divine bliss. I rejoice in the midst of the host of the Thirty-three, and I have not reached the exhaustion of that merit.
“Chính nghiệp thiện đó đã được tôi thực hiện, và tôi tự mình hưởng thụ niềm an lạc của cõi trời. Tôi hoan hỷ giữa hội chúng Ba Mươi Ba, và phước báu ấy của tôi vẫn chưa cạn kiệt.”
Anekavaṇṇavimānaṃ aṭṭhamaṃ.
The Eighth: The Mansion of Many Colors.
Thiên cung Nhiều Màu Sắc, phẩm thứ tám.