Bản dịch
VV 81 — Thiên Cung của Kanthaka
7. Kaṇḍakavimānavatthu
BJT 1172“Giống như mặt trăng, chúa tể các vì sao, có hình con thỏ, vào ngày rằm, được vây quanh bởi các vì tinh tú, di chuyển vòng quanh.
BJT 1173Tương tự như thế, Thiên cung này thuộc cõi Trời và ở thành phố của chư Thiên sáng chói vượt trội nhờ vào vẻ đẹp, tựa như mặt trời đang mọc lên.
BJT 1174Ngọc bích, vàng, ngọc pha-lê, và ngọc ru-bi, với các viên ngọc mắt mèo, ngọc trai, và các viên ngọc ma-ni màu đỏ.
BJT 1175Mặt nền đa dạng, làm thích ý, được trải lót bằng ngọc bích, có các ngôi nhà mái nhọn xinh đẹp, đáng yêu; tòa lâu đài của ngươi đã khéo được hóa hiện.
BJT 1176Và các hồ sen của ngươi là đáng yêu, được loài cá puthuloma lai vãng, có nước trong sạch, được yên tĩnh, được trải cát bằng vàng.
BJT 1177Được che phủ bởi nhiều loại sen khác nhau, được trải rộng với những cây sen trắng, (các hồ sen) làm hài lòng, được lay động bởi làn gió, tỏa ra hương thơm.
BJT 1178Ở cả hai bên cái hồ ấy của ngươi, có những cụm rừng đã khéo được hóa hiện ra, có đủ cả hai loại với các loại cây bông hoa và các loại cây sinh trái.
BJT 1179Ở chiếc ghế dài có chân bằng vàng, mềm mại, được trải lót lớp vải, các tiên nữ đứng hầu (ngươi) đã ngồi xuống, tựa như vị Thiên Vương.
BJT 1180(Các tiên nữ) được che phủ với tất cả đồ trang sức, được điểm trang với các tràng hoa khác loại, tiêu khiển cho ngươi, người có đại thần lực; ngươi vui thú tựa như vị (Thiên Vương) Vasavatti.
BJT 1181Với các cái trống, các tù và vỏ sò và các trống nhỏ, với các cây đàn vīṇā, và với các xập xõa, được đầy đủ thú vui, ngươi vui thú ở vũ điệu lời ca, ở khúc nhạc hay.
BJT 1182Các sắc thuộc cõi Trời với nhiều hình thức là thuộc về ngươi, các thinh thuộc cõi Trời, rồi các vị, các hương, và các xúc thích ý được dành riêng cho ngươi.
BJT 1183Này vị Thiên tử, ở Thiên cung quý cao ấy, ngươi có ánh sáng vĩ đại, sáng chói vượt trội nhờ vào màu da, tựa như mặt trời đang mọc lên.
BJT 1184Quả báo này của ngươi là do sự bố thí, hay là do giới hạnh, hoặc của hành động chắp tay? Được hỏi, xin ngươi hãy giải thích điều ấy cho ta.”
BJT 1185Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1187-1188Vào lúc nửa đêm, vị ấy đã ra đi vì sự Giác Ngộ. Vị ấy, với hai bàn tay mềm mại, có màng lưới, và các móng tay màu đồng, đã vỗ vào đùi của tôi và đã nói rằng: ‘Này bạn, hãy đưa (ta) đi. Đạt được quả vị Giác Ngộ tối thượng, ta sẽ giúp cho thế gian vượt qua.’
BJT 1189Niềm vui bao la đã có cho tôi trong khi tôi đang lắng nghe câu nói ấy. Với tâm phấn khởi, với thiện ý, khi ấy tôi đã mong cầu.
BJT 1190Và sau khi biết được người con trai dòng Sakya, có danh tiếng lớn lao, đã cỡi lên tôi, với tâm phấn khởi, được hoan hỷ, tôi đã đưa bậc tối thượng nhân đi.
BJT 1191Sau khi đi đến lãnh thổ của những người khác, khi mặt trời đã mọc lên, sau khi bỏ lại tôi và Channa, vị ấy đã bỏ đi, không đoái hoài.
BJT 1192Bằng lưỡi, tôi đã liếm quanh hai bàn chân có móng chân màu đồng của vị ấy, và đã khóc lóc nhìn theo vị đại anh hùng đang ra đi.
BJT 1193Do việc không còn nhìn thấy người con trai dòng Sakya vinh quang ấy, tôi đã nhận lấy cơn bệnh trầm trọng; cái chết đã nhanh chóng xảy đến cho tôi.
BJT 1194Do nhờ năng lực của chính việc ấy, tôi trú ngụ tại Thiên cung này, có đủ tất cả các loại dục, và ở thành phố chư Thiên thuộc cõi Trời.
BJT 1195Và việc tôi đã có niềm vui sau khi nghe được âm thanh của từ giác ngộ; do chính thiện căn ấy, tôi sẽ chạm đến sự cạn kiệt các lậu hoặc.
BJT 1196Thưa ngài, bởi vì nếu ngài đi đến gặp đức Phật, bậc Đạo Sư, xin ngài hãy nói với Vị ấy luôn cả lời nói của tôi về việc đê đầu đảnh lễ (của tôi).
BJT 1197Tôi cũng sẽ đi để diện kiến đấng Chiến Thắng, bậc không người đối thủ; việc gặp gỡ các đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy là điều khó đạt được.”
BJT 1198Vị (Thiên tử) ấy có sự tri ân, có sự hiểu biết về việc đã được làm, đã đi đến gặp bậc Đạo Sư. Sau khi lắng nghe lời nói của đấng Hữu Nhãn, vị ấy đã làm trong sạch Pháp nhãn.
BJT 1199Sau khi đã làm trong sạch việc sa vào (tà) kiến, hoài nghi, và (sự cố chấp vào) các nghi thức, vị ấy đã đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Thiên Cung của Kanthaka.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Kaṇḍakavimānavatthu
7. The Story of Kaṇḍaka’s Mansion
7. Câu chuyện Thiên cung của Kaṇḍaka
1171.
1171.
1171.
‘‘Puṇṇamāse yathā cando, nakkhattaparivārito;
Samantā anupariyāti, tārakādhipatī sasī.
“Just as on a full moon day, the moon, marked with a hare, the lord of stars, surrounded by constellations, travels around on every side;
“Như mặt trăng vào ngày rằm, chúa tể của các vì sao, được các chòm sao vây quanh, đi vòng quanh khắp nơi.”
1172.
1172.
1172.
‘‘Tathūpamaṃ idaṃ byamhaṃ, dibbaṃ devapuramhi ca;
Atirocati vaṇṇena, udayantova raṃsimā.
“So too this divine mansion in the city of the devas outshines in splendor, like the rising sun.
“Cũng tương tự như vậy, thiên cung này của ngài ở cõi trời, tỏa sáng rực rỡ về màu sắc, giống như mặt trời đang mọc.”
1173.
1173.
1173.
‘‘Veḷuriyasuvaṇṇassa, phalikā rūpiyassa ca;
Masāragallamuttāhi, lohitaṅgamaṇīhi ca.
“It is fashioned of beryl and gold, of crystal and silver, with emeralds and pearls, and with rubies.
“(Thiên cung này được làm) bằng lưu ly và vàng, bằng pha lê và bạc, bằng ngọc mã não, ngọc trai, và hồng ngọc.”
1174.
1174.
1174.
‘‘Citrā manoramā bhūmi, veḷūriyassa santhatā;
Kūṭāgārā subhā rammā, pāsādo te sumāpito.
“The ground is variegated and delightful, paved with beryl; the peaked pavilions are beautiful and lovely, and your mansion is well-fashioned.
“Mặt đất đẹp đẽ, khả ái, được lát bằng lưu ly. Các lầu gác xinh đẹp, đáng ưa thích; lâu đài của ngài được khéo xây dựng.”
1175.
1175.
1175.
‘‘Rammā ca te pokkharaṇī, puthulomanisevitā;
Acchodakā vippasannā, sovaṇṇavālukasanthatā.
“And your lotus ponds are delightful, frequented by many fish, with clear and serene water, strewn with golden sand.
“Và các hồ sen của ngài thật đáng ưa thích, có nhiều loài cá lui tới, nước trong vắt, cực kỳ thanh tịnh, đáy hồ được rải cát vàng.”
1176.
1176.
1176.
‘‘Nānāpadumasañchannā, puṇḍarīkasamotatā †;
Surabhiṃ sampavāyanti, manuññā māluteritā.
“Covered with various lotuses and overgrown with white lotuses, pleasant fragrances stirred by the wind waft all around from them.
“Hồ được bao phủ bởi nhiều loại sen hồng và sen trắng. Những làn gió thoảng đưa hương thơm ngát, dễ chịu.”
1177.
1177.
1177.
‘‘Tassā te ubhato passe, vanagumbā sumāpitā;
Upetā puppharukkhehi, phalarukkhehi cūbhayaṃ.
“On both sides of it, groves are well-fashioned, endowed with both flowering trees and fruit-bearing trees.
“Ở hai bên bờ hồ, các lùm cây được khéo tạo dựng, có đủ cả cây ra hoa và cây ra quả.”
1178.
1178.
1178.
‘‘Sovaṇṇapāde pallaṅke, muduke goṇakatthate †;
Nisinnaṃ devarājaṃva, upatiṭṭhanti accharā.
“On a golden-footed couch, soft and spread with a long-fleeced rug, you are seated like the king of devas, and celestial nymphs attend upon you.
“Trên chiếc trường kỷ chân vàng, trải nệm len mềm mại, ngài ngồi đó như một vị thiên chủ, được các tiên nữ hầu hạ.”
1179.
1179.
1179.
‘‘Sabbābharaṇasañchannā, nānāmālāvibhūsitā;
Ramenti taṃ mahiddhikaṃ, vasavattīva modasi.
“Adorned with all ornaments and decorated with various garlands, the nymphs delight you, who are of great power. You rejoice like Vasavattī.
“Họ trang sức với đủ loại trang phục, trang điểm bằng nhiều vòng hoa khác nhau. Các tiên nữ có thần lực lớn làm ngài vui thích, và ngài hoan hỷ như vị trời Vasavattī.”
1180.
1180.
1180.
‘‘Bherisaṅkhamudiṅgāhi, vīṇāhi paṇavehi ca;
Ramasi ratisampanno, naccagīte suvādite.
“With kettle-drums, conches, and tabors, with lutes and with small drums, you, endowed with delight, rejoice in well-performed dance and song.
“Với trống, tù và, và trống cơm, với đàn tỳ bà và trống nhỏ, ngài vui hưởng, tràn đầy hỷ lạc, trong điệu múa, tiếng hát, và âm nhạc du dương.”
1181.
1181.
1181.
‘‘Dibbā te vividhā rūpā, dibbā saddā atho rasā;
Gandhā ca te adhippetā, phoṭṭhabbā ca manoramā.
“For you there exist various divine forms, divine sounds, and also tastes; and desired scents and delightful tangible objects.
“Ngài có các sắc cảnh, thanh cảnh, và vị cảnh thiêng liêng, đa dạng. Ngài cũng có các hương cảnh và xúc cảnh khả ái, làm vui thích tâm ý.”
1182.
1182.
1182.
‘‘Tasmiṃ vimāne pavare, devaputta mahappabho;
Atirocasi vaṇṇena, udayantova bhāṇumā.
“In that excellent mansion, O devaputta of great radiance, you outshine with your splendor, like the rising sun.
“Này thiên tử, trong thiên cung tuyệt vời ấy, ngài là người có hào quang vĩ đại, ngài tỏa sáng rực rỡ về màu sắc, giống như mặt trời đang mọc.”
1183.
1183.
1183.
‘‘Dānassa te idaṃ phalaṃ, atho sīlassa vā pana;
Atho añjalikammassa, taṃ me akkhāhi pucchito’’.
“Is this the fruit of your giving, or else of your virtue? Or else of the act of reverential salutation? Being asked, please explain that to me.”
“Đây là quả báo của sự bố thí, hay là của giới hạnh, hay là của việc chắp tay cung kính? Khi được hỏi, xin ngài hãy giải thích điều đó cho tôi.”
1184.
1184.
1184.
So devaputto attamano…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devaputta, with a delighted mind, being asked by Moggallāna, explained of which deed this was the fruit.
Vị thiên tử ấy, với tâm hoan hỷ... (v.v.)... đã giải thích nghiệp nào đã đưa đến quả báo này.
1185.
1185.
1185.
‘‘Ahaṃ kapilavatthusmiṃ, sākiyānaṃ puruttame;
Suddhodanassa puttassa, kaṇḍako sahajo ahaṃ.
“In Kapilavatthu, the excellent city of the Sākyas, I was Kaṇḍaka, the co-natal horse of the son of Suddhodana.
“Tại Kapilavatthu, thành phố tốt đẹp nhất của dòng họ Sākya, con là Kaṇḍaka, con ngựa sinh cùng ngày với con trai của vua Suddhodana.”
1186.
1186.
1186.
‘‘Yadā so aḍḍharattāyaṃ, bodhāya mabhinikkhami;
So maṃ mudūhi pāṇīhi, jāli † tambanakhehi ca.
“When at midnight he went forth for the sake of enlightenment, he, with his soft hands and with his web-like, copper-colored nails,
“Khi ngài xuất gia vào lúc nửa đêm để tìm cầu giác ngộ, ngài đã (vỗ về) con bằng đôi tay mềm mại và những móng tay màu đồng, có hình mạng lưới.”
1187.
1187.
1187.
‘‘Satthiṃ ākoṭayitvāna, vaha sammāti cabravi;
Ahaṃ lokaṃ tārayissaṃ, patto sambodhimuttamaṃ.
“having tapped my thigh, said, ‘Carry me, friend! Having attained supreme enlightenment, I shall ferry the world across.’
“Vỗ nhẹ vào hông con, ngài nói: ‘Này bạn, hãy mang ta đi. Khi đã đạt được giác ngộ tối thượng, ta sẽ giúp thế gian vượt qua.’”
1188.
1188.
1188.
‘‘Taṃ me giraṃ suṇantassa, hāso me vipulo ahu;
Udaggacitto sumano, abhisīsiṃ † tadā ahaṃ.
“Hearing those words of his, great joy arose in me. At that time, with an uplifted and glad mind, I undertook to carry him.
“Khi nghe những lời ấy, niềm vui lớn lao đã khởi lên trong con. Với tâm phấn khởi và hoan hỷ, bấy giờ con đã chấp thuận.”
1189.
1189.
1189.
‘‘Abhirūḷhañca maṃ ñatvā, sakyaputtaṃ mahāyasaṃ;
Udaggacitto mudito, vahissaṃ purisuttamaṃ.
“Knowing that the Sākyan prince of great fame had mounted me, with an uplifted and joyful mind, I carried the supreme man.
“Biết rằng vị Thích tử lừng danh đã ngồi trên lưng mình, với tâm phấn khởi và vui mừng, con đã mang đi bậc tối thượng nhân ấy.”
1190.
1190.
1190.
‘‘Paresaṃ vijitaṃ gantvā, uggatasmiṃ divākare †;
Mamaṃ channañca ohāya, anapekkho so apakkami.
“Having gone to the country of others, when the sun had risen, he abandoned both me and Channa and, being unconcerned, departed.
“Sau khi đi đến lãnh thổ của người khác, lúc mặt trời mọc, vị ấy đã bỏ lại tôi và Channa, không luyến tiếc mà ra đi.
1191.
1191.
1191.
‘‘Tassa tambanakhe pāde, jivhāya parilehisaṃ;
Gacchantañca mahāvīraṃ, rudamāno udikkhisaṃ.
“I licked his feet with their copper-colored nails with my tongue; and weeping, I watched the great hero as he was going.
“Tôi đã dùng lưỡi liếm đôi bàn chân có móng màu đồng của vị ấy. Vừa khóc, tôi vừa nhìn theo bậc Đại Hùng đang ra đi.
1192.
1192.
1192.
‘‘Adassanenahaṃ tassa, sakyaputtassa sirīmato;
Alatthaṃ garukābādhaṃ, khippaṃ me maraṇaṃ ahu.
“Due to not seeing him, that glorious Sākyan prince, I contracted a severe illness, and death came to me quickly.
“Vì không được thấy vị Thích tử, bậc quang vinh ấy, tôi đã lâm trọng bệnh, và cái chết đã nhanh chóng đến với tôi.
1193.
1193.
1193.
‘‘Tasseva ānubhāvena, vimānaṃ āvasāmidaṃ;
Sabbakāmaguṇopetaṃ, dibbaṃ devapuramhi ca.
“By the power of that very deed, I dwell in this divine mansion in the city of the devas, endowed with all sensual pleasures.
“Chính nhờ oai lực của việc ấy, tôi được ở trong thiên cung này, một nơi huy hoàng tại cõi trời, đầy đủ mọi dục đức.
1194.
1194.
1194.
‘‘Yañca me ahuvā hāso, saddaṃ sutvāna bodhiyā;
Teneva kusalamūlena, phusissaṃ āsavakkhayaṃ.
“And because of that joy which arose in me upon hearing the word ‘enlightenment,’ by that very root of merit I shall attain the destruction of the cankers.
“Và niềm hoan hỷ nào đã khởi lên trong tôi khi nghe âm thanh về sự Giác Ngộ, chính nhờ thiện căn ấy, tôi sẽ chứng đạt sự đoạn tận các lậu hoặc.
1195.
1195.
1195.
‘‘Sace hi bhante gaccheyyāsi, satthu buddhassa santike;
Mamāpi naṃ vacanena, sirasā vajjāsi vandanaṃ.
“Venerable Sir, if you should go into the presence of the Teacher, the Buddha, please convey with my words my homage to him with my head.
“Bạch ngài, nếu ngài đến nơi đức Đạo Sư, bậc Giác Ngộ, xin ngài cũng nhân danh tôi, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Người.
1196.
1196.
1196.
‘‘Ahampi daṭṭhuṃ gacchissaṃ, jinaṃ appaṭipuggalaṃ;
Dullabhaṃ dassanaṃ hoti, lokanāthāna tādina’’nti.
“I too shall go to see the Conqueror, the incomparable person. The sight of such protectors of the world is difficult to obtain.”
“Tôi cũng sẽ đi để diện kiến bậc Chiến Thắng, đấng Vô Song. Thật hy hữu thay được diện kiến các bậc Hộ Trì Thế Gian, những vị như thế.”
1197.
1197.
1197.
So kataññū katavedī, satthāraṃ upasaṅkami;
Sutvā giraṃ cakkhumato, dhammacakkhuṃ visodhayi.
That grateful and thankful one approached the Teacher. Having heard the words of the One with Vision, he purified the eye of the Dhamma.
Vị ấy, người biết ơn và đền ơn, đã đến gần đức Đạo Sư. Sau khi nghe lời dạy của bậc có Mắt, vị ấy đã thanh lọc được pháp nhãn.
1198.
1198.
1198.
Visodhetvā diṭṭhigataṃ, vicikicchaṃ vatāni ca;
Vanditvā satthuno pāde, tatthevantaradhāyathāti †.
Having purified wrong view, doubt, and adherence to rules and vows, and having paid homage to the Teacher’s feet, he vanished right there.
Sau khi thanh lọc các tà kiến, hoài nghi và giới cấm thủ, vị ấy đảnh lễ dưới chân đức Đạo Sư rồi biến mất ngay tại chỗ.
Kaṇḍakavimānaṃ sattamaṃ.
The Seventh: The Kaṇḍaka Mansion.
Thiên cung của Kaṇḍaka, phẩm thứ bảy.