Bản dịch
VV 80 — Thiên Cung của Người Chăn Bò
6. Gopālavimānavatthu
BJT 1160Sau khi nhìn thấy vị Thiên nhân có đồ trang sức ở bàn tay đã được trau chuốt, có danh tiếng, ở tòa lâu đài cao ráo, có sự tồn tại lâu dài, cũng giống như mặt trăng ở Thiên cung thuộc cõi Trời, vị tỳ khưu đã hỏi rằng:
BJT 1161“Ngươi đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, có bông tai khéo, có tóc râu đã được sửa soạn, có đồ trang sức ở bàn tay đã được trau chuốt, có danh tiếng, giống như mặt trăng ở Thiên cung thuộc cõi Trời.
BJT 1162Còn có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào. Có tám nhóm, mỗi nhóm tám cô tiên nữ, sống ở cõi Ba Mươi (Ba), cao sang, đã được học tập, có dáng vóc nghiêm trang, nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển.
BJT 1163Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1164Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1165“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã gom lại các con bò cái của những người khác rồi canh giữ. Và sau đó, có vị Sa-môn đã đi đến gần tôi. Và các con bò đã đi đến để ăn những cây đậu.
BJT 1166‘Hôm nay, có hai phận sự, và cả hai đều cần phải làm.’ Thưa ngài, khi ấy tôi đã suy nghĩ y như thế. Kế đó, sau khi đã đạt được ý nghĩ đúng đắn, tôi đã đặt mảnh giẻ (gói miếng bánh, nói rằng): ‘Thưa ngài, tôi xin dâng.’
BJT 1167Tôi đây đã vội vã đi xuống ruộng đậu trước khi con bò này làm hư hại tài sản này của ai đó. Và kế đó, có con rắn màu đen có nọc độc dữ tợn đã cắn ở bàn chân của tôi trong khi tôi đang vội vã.
BJT 1168Tôi đây bị đau đớn, bị hành hạ bởi khổ đau. Và vị tỳ khưu sau khi tự thân mở ra mảnh giẻ (gói miếng bánh) ấy, đã nuốt vào miếng bánh kem, vì lòng thương tưởng đối với tôi. Từ nơi ấy, tôi đã chết, đã từ trần, và trở thành Thiên nhân.
BJT 1169Chính hành động thiện ấy đã được tôi tạo ra, và tôi thọ hưởng nghiệp an lạc tự chính mình. Thưa ngài, bởi vì tôi đã được ngài thương tưởng thật nhiều, tôi xin đảnh lễ (ngài) với lòng tri ân.
BJT 1170Ở thế gian luôn cả chư Thiên và luôn cả Ma Vương, không có vị hiền trí nào khác là người có lòng thương tưởng hơn ngài. Thưa ngài, bởi vì tôi đã được ngài thương tưởng thật nhiều, tôi xin đảnh lễ (ngài) với lòng tri ân.
BJT 1171Ở thế gian này hay là ở đời kế tiếp đi nữa, không có vị hiền trí nào khác là người có lòng thương tưởng hơn ngài. Thưa ngài, bởi vì tôi đã được ngài thương tưởng thật nhiều, tôi xin đảnh lễ (ngài) với lòng tri ân.”
Thiên Cung của Người Chăn Bò.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
1159.
1159.
1159.
‘‘Disvāna devaṃ paṭipucchi bhikkhu, ucce vimānamhi ciraṭṭhitike;
Āmuttahatthābharaṇaṃ yasassiṃ †, dibbe vimānamhi yathāpi candimā.
Having seen the deva—possessing a great retinue, wearing hand ornaments, in a lofty, long-lasting mansion, like the moon in its divine mansion—the bhikkhu questioned him.
Vị tỳ khưu, sau khi thấy vị trời, đã hỏi lại, người đang ở trong thiên cung cao lớn, tồn tại lâu dài; người đeo trang sức tay, đầy danh tiếng, trong thiên cung cõi trời, giống như mặt trăng.
1160.
1160.
1160.
‘‘Alaṅkato malyadharo † suvattho, sukuṇḍalī kappitakesamassu;
Āmuttahatthābharaṇo yasassī, dibbe vimānamhi yathāpi candimā.
“You are adorned, wearing garlands, finely dressed, with fine earrings, with hair and beard neatly trimmed, and wearing hand ornaments. Possessing a great retinue, you shine in your divine mansion just like the moon.
Được trang hoàng, đeo vòng hoa, mặc y phục đẹp, đeo hoa tai đẹp, tóc và râu được cắt tỉa; đeo trang sức tay, đầy danh tiếng, ngài ở trong thiên cung cõi trời, tỏa sáng như mặt trăng.
1161.
1161.
1161.
‘‘Dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṃ, aṭṭhaṭṭhakā sikkhitā sādhurūpā;
Dibbā ca kaññā tidasacarā uḷārā, naccanti gāyanti pamodayanti.
“Divine lutes play sweetly, and sixty-four divine maidens—skilled, of excellent form, dwellers in the realm of the Thirty-three, and of great splendor—dance, sing, and delight you.
Và các cây đàn tỳ bà cõi trời vang lên những âm thanh ngọt ngào, có sáu mươi bốn nàng tiên nữ cõi trời, được huấn luyện, có dung sắc xinh đẹp, thuộc cõi trời Ba Mươi Ba, cao quý, họ nhảy múa, ca hát và làm cho ngài vui thích.
1162.
1162.
1162.
‘‘Deviddhipattosi mahānubhāvo, manussabhūto kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvo, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“You have attained divine power and are of great might. When you were a human, what meritorious deed did you perform? By what are you of such radiant power, and by what does your complexion illuminate all directions?”
“Này thiên tử, ngài có được thần lực, có đại oai đức. Khi còn là người, ngài đã làm phước gì? Do đâu ngài có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngài chiếu sáng khắp mọi phương?”
1163.
1163.
1163.
So devaputto attamano…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devaputta, with a delighted mind... explained the deed of which this is the fruit.
Vị thiên tử ấy, với tâm hoan hỷ... (v.v.)... đã giải thích nghiệp nào đã đưa đến quả báo này.
1164.
1164.
1164.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūto, saṅgamma rakkhissaṃ paresaṃ dhenuyo;
Tato ca āgā samaṇo mamantike gāvo ca māse agamaṃsu khādituṃ.
When I was a human being among humans, I gathered and guarded the cows of others. At that time, a monk came near me, and the cows went to eat in the bean fields.
“Bạch ngài, khi con là người giữa loài người, con đã chăn giữ đàn bò cái của người khác. Bấy giờ, một vị sa-môn đã đến gần con, và đàn bò đã đi đến để ăn đậu.”
1165.
1165.
1165.
‘‘Dvayajja kiccaṃ ubhayañca kāriyaṃ, iccevahaṃ † bhante tadā vicintayiṃ;
Tato ca saññaṃ paṭiladdhayoniso, dadāmi bhanteti khipiṃ anantakaṃ.
‘Today there are two duties, and both must be done,’ thus, Venerable Sir, I considered at that time. Then, having regained proper perception, I resolved, ‘Venerable Sir, I give,’ and placed the wrapped barley-cake in your hand.
“Bạch ngài, bấy giờ con đã suy nghĩ rằng: ‘Hôm nay có hai việc, cả hai đều phải làm.’ Sau đó, khi đã có được chánh niệm, con nghĩ: ‘Bạch ngài, con xin cúng dường,’ và đã đặt tấm vải bọc vào tay ngài.”
1166.
1166.
1166.
‘‘So māsakhettaṃ turito avāsariṃ, purā ayaṃ bhañjati yassidaṃ dhanaṃ;
Tato ca kaṇho urago mahāviso, aḍaṃsi pāde turitassa me sato.
I swiftly approached the bean field, before this herd of cattle could destroy that property. And there, a black serpent of great venom bit my foot as I was hurrying.
“Con vội vã chạy đến ruộng đậu, trước khi đàn bò này phá hoại tài sản của người chủ. Rồi một con rắn đen, nọc độc cực mạnh, đã cắn vào chân con trong lúc con đang vội vã.”
1167.
1167.
1167.
‘‘Svāhaṃ aṭṭomhi dukkhena pīḷito, bhikkhu ca taṃ sāmaṃ muñcitvānantakaṃ †;
Ahāsi kummāsaṃ mamānukampayā †, tato cuto kālakatomhi devatā.
I was afflicted and oppressed by deadly suffering. The monk, unwrapping that bundle himself, ate the barley-cake out of compassion for me. Having passed away from that human existence, I died and became a deva.
“Con bị đau đớn, bị khổ não hành hạ. Vị tỳ-kheo, vì lòng bi mẫn đối với con, đã tự mình mở tấm vải bọc và dùng bánh lúa mạch. Sau khi mệnh chung, con đã được sanh làm thiên nhân.”
1168.
1168.
1168.
‘‘Tadeva kammaṃ kusalaṃ kataṃ mayā, sukhañca kammaṃ anubhomi attanā;
Tayā hi bhante anukampito bhusaṃ, kataññutāya abhipādayāmi taṃ.
That very wholesome deed was done by me, and I myself experience its happy fruit. For I was greatly compassionated by you, Venerable Sir; out of gratitude, I pay homage to you.
“Con chỉ làm một thiện nghiệp duy nhất đó, và tự mình con đang hưởng thụ quả báo an lạc của nghiệp ấy. Bạch ngài, chính ngài đã hết lòng bi mẫn con. Vì lòng biết ơn, con xin đảnh lễ ngài.”
1169.
1169.
1169.
‘‘Sadevake loke samārake ca, añño muni natthi tayānukampako;
Tayā hi bhante anukampito bhusaṃ, kataññutāya abhivādayāmi taṃ.
In the world with its devas and with Māra, there is no other sage as compassionate as you. For you, Venerable Sir, showed me great compassion; in gratitude, I pay homage to you.
“Trong thế giới cùng với chư thiên và ma vương, không có vị ẩn sĩ nào bi mẫn như ngài. Bạch ngài, chính ngài đã hết lòng bi mẫn con. Vì lòng biết ơn, con xin đảnh lễ ngài.”
1170.
1170.
1170.
‘‘Imasmiṃ loke parasmiṃ vā pana, añño munī natthi tayānukampako;
Tayā hi bhante anukampito bhusaṃ, kataññutāya abhivādayāmi ta’’nti.
In this world or in the next, there is no other sage as compassionate as you. For you, Venerable Sir, showed me great compassion; in gratitude, I pay homage to you.”
“Dù ở đời này hay ở đời sau, không có vị ẩn sĩ nào bi mẫn như ngài. Bạch ngài, chính ngài đã hết lòng bi mẫn con. Vì lòng biết ơn, con xin đảnh lễ ngài.”
Gopālavimānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Sixth: The Cowherd's Mansion.
Thiên cung Người Chăn Bò, phẩm thứ sáu.