Bản dịch
VV 79 — Thiên Cung Cây Xoài
5. Ambavimānavatthu
BJT 1147“Thiên cung này cao, có cây trụ bằng ngọc ma-ni, ở xung quanh mười hai do-tuần, có bảy trăm ngôi nhà mái nhọn cao sang với các cây cột làm bằng ngọc bích, được trải lót bằng vàng, xinh đẹp.
BJT 1148Ở nơi ấy, ngươi trú ngụ, ngươi uống, và ngươi ăn. Có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào, có các vị nếm thuộc cõi Trời, ở đây có năm loại dục lạc, và có các phụ nữ trang phục bằng vàng nhảy múa.
BJT 1149Do điều gì ngươi có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho ngươi ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho ngươi?
BJT 1150Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1151Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1152“Vào tháng cuối cùng của mùa nóng, khi mặt trời đang đốt nóng, người đàn ông, kẻ làm thuê cho những người khác, đã tưới nước vườn xoài.
BJT 1153Khi ấy, vị tỳ khưu nổi tiếng ‘Sāriputta’ đã đi đến nơi ấy, với dáng vẻ mệt nhọc ở cơ thể nhưng không chút mệt nhọc ở tâm ý.
BJT 1154Và sau khi nhìn thấy vị ấy đang tiến đến, người tưới xoài đã nói rằng: ‘Thưa ngài, tốt lành thay (nếu) tôi có thể tắm cho ngài, việc ấy là sự đem lại hạnh phúc cho tôi.’
BJT 1155Vì lòng thương tưởng đến tôi đây, vị ấy đã đặt y và bình bát xuống, rồi đã ngồi xuống ở gốc cây, nơi bóng râm, (mặc) một y.
BJT 1156Và với tâm tịnh tín, người đàn ông, với nước sạch, đã tắm cho vị ấy, (mặc) một y, ở gốc cây, nơi bóng râm.
BJT 1157‘Cây xoài đã được tưới nước và vị Sa-môn đã được tắm; còn phước báu đã được tôi tạo ra không phải là ít.’ (Suy nghĩ) như thế, người ấy làm lan tỏa toàn bộ cơ thể của bản thân với niềm hỷ lạc.
BJT 1158Trong kiếp sống ấy, tôi đã tạo chính nghiệp ấy chỉ có bấy nhiêu. Sau khi lìa bỏ xác thân nhân loại, tôi được sanh lên (khu vườn) Nandana.
BJT 1159Ở khu vườn Nandana đáng yêu, được những bầy chim khác nhau gắn bó, được tôn vinh bởi các tiên nữ, tôi thích thú với những điệu múa lời ca.”
Thiên Cung Cây Xoài.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Gimhānaṃ pacchime māse, patapante † divaṅkare;
Paresaṃ bhatako poso, ambārāmamasiñcati.
“In the last month of the hot season, while the sun was blazing, a man working for hire for others was watering a mango grove.
Vào tháng cuối của mùa hè, khi mặt trời đang thiêu đốt, một người làm thuê cho người khác đang tưới một vườn xoài.
1152.
1152.
1152.
‘‘Atha tenāgamā bhikkhu, sāriputtoti vissuto;
Kilantarūpo kāyena, akilantova cetasā.
“Then a bhikkhu came by that way, renowned as Sāriputta, appearing weary in body, though not weary in mind.
Khi ấy, một vị tỳ khưu, nổi danh là Sāriputta, đã đi đến bằng con đường đó; thân thể ngài có vẻ mệt mỏi, nhưng tâm trí thì không.
1153.
1153.
1153.
‘‘Tañca disvāna āyantaṃ, avocaṃ ambasiñcako;
Sādhu taṃ † bhante nhāpeyyaṃ, yaṃ mamassa sukhāvahaṃ.
“Seeing him approaching, I, the waterer of the mango grove, said: ‘Good sir, please allow me to bathe you; that would bring me happiness.’
Và khi thấy ngài đang đến, con, người tưới xoài, đã nói: ‘Bạch ngài, thật tốt lành, con xin được tắm cho ngài, điều đó sẽ mang lại hạnh phúc cho con.’
1154.
1154.
1154.
‘‘Tassa me anukampāya, nikkhipi pattacīvaraṃ;
Nisīdi rukkhamūlasmiṃ, chāyāya ekacīvaro.
“Out of compassion for me, he set down his bowl and robes; wearing only a single robe, he sat in the shade at the foot of a tree.
Vì lòng bi mẫn đối với con, ngài đã đặt y bát xuống; ngài ngồi dưới gốc cây, trong bóng mát, chỉ với một y.
1155.
1155.
1155.
‘‘Tañca acchena vārinā, pasannamānaso naro;
Nhāpayī rukkhamūlasmiṃ, chāyāya ekacīvaraṃ.
“With clear water, the man, his mind devout, bathed him—who wore but a single robe—as he sat in the shade at the foot of the tree.
Và người đàn ông ấy, với tâm tịnh tín, đã dùng nước trong để tắm cho ngài, người đang ngồi dưới gốc cây, trong bóng mát, chỉ với một y.
1156.
1156.
1156.
‘‘Ambo ca sitto samaṇo ca nhāpito, mayā ca puññaṃ pasutaṃ anappakaṃ;
Iti so pītiyā kāyaṃ, sabbaṃ pharati attano.
“‘The mango tree has been watered, the monk has been bathed, and much merit has been generated by me.’ Thinking thus, he suffused his entire body with joy.
‘Cây xoài đã được tưới, và vị sa môn đã được tắm, và ta đã tạo ra không ít công đức.’ Nghĩ vậy, người ấy làm cho hỷ lạc tràn ngập khắp toàn thân mình.
1157.
1157.
1157.
‘‘Tadeva ettakaṃ kammaṃ, akāsiṃ tāya jātiyā;
Pahāya mānusaṃ dehaṃ, upapannomhi nandanaṃ.
“Just that much of a deed I performed in that existence. Having abandoned the human body, I have arisen in Nandana.
Chỉ có bấy nhiêu nghiệp đó là con đã làm trong kiếp ấy. Sau khi từ bỏ thân người, con đã tái sanh vào vườn Nandana.
1158.
1158.
1158.
‘‘Nandane ca vane ramme, nānādijagaṇāyute;
Ramāmi naccagītehi, accharāhi purakkhato’’ti.
“And in the delightful grove of Nandana, filled with flocks of various birds, I delight, attended by celestial nymphs skilled in dance and song.”
Và trong khu vườn Nandana khả ái, nơi có nhiều đàn chim khác nhau, con vui hưởng với vũ điệu và ca hát, được các tiên nữ hầu cận.
Ambavimānaṃ pañcamaṃ.
The Fifth: The Mango Mansion.
Thiên cung Cây Xoài, câu chuyện thứ năm.
6. Gopālavimānavatthu
6. The Story of the Cowherd's Mansion
6. Câu chuyện về Thiên cung của Người Chăn Bò