Bản dịch
VV 7 — Thiên Cung Chiếc Thuyền thứ nhì
7. Dutiyanāvāvimānavatthu
BJT 53“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, sau khi bước lên chiếc thuyền có mái bằng vàng. Nàng lội xuống hồ nước hái hoa sen bằng bàn tay.
BJT 54Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 55Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 56Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 57“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, trong kiếp sống trước đây ở thế giới loài người, sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu bị thiếu nước, bị mệt nhọc, tôi đã đứng lên và đã dâng nước để uống.
BJT 58Quả vậy, người nào đứng lên và dâng nước để uống đến người bị mệt nhọc bị khát nước, người ấy có được con sông có nước mát, lắm bông hoa, và nhiều sen trắng.
BJT 59Những dòng nước luôn luôn chảy xung quanh người ấy, những con sông có nước mát, được trải lót bằng cát. Có những cây xoài, cây sālā, cây tilakā, cây mận đỏ, cây bã đậu, và cây loa kèn nở rộ hoa.
BJT 60Thiên cung hạng nhất ấy, có vẻ đẹp được ban cho với những vùng đất (như thế ấy), đang chiếu sáng rực rỡ. Ở đây, quả thành tựu này là của nghiệp ấy. Những người có phước báu đã làm đạt được như thế này.
BJT 61Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 62Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Chiếc Thuyền thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūtā, purimāya jātiyā manussaloke;
Disvāna bhikkhuṃ tasitaṃ kilantaṃ, uṭṭhāya pātuṃ udakaṃ adāsiṃ.
When I was a human being among humans, in a former birth in the human world, having seen a bhikkhu who was thirsty and weary, I arose and gave him water to drink.
“Khi là thân người giữa nhân loại, trong kiếp trước ở thế gian, sau khi nhìn thấy một vị Tỳ khưu khát nước và mệt mỏi, tôi đã đứng dậy dâng cúng nước uống.”
58.
58.
58.
‘‘Yo ve kilantassa pipāsitassa, uṭṭhāya pātuṃ udakaṃ dadāti;
Sītodakā tassa bhavanti najjo, pahūtamalyā bahupuṇḍarīkā.
Indeed, for one who rises and gives water to drink to someone weary and thirsty, for them arise rivers with cool water, with abundant flowers and many white lotuses.
“Vị nào đứng dậy dâng cúng nước uống cho người mệt mỏi và khát nước, vị ấy sẽ có được các hồ nước mát, nhiều hoa và nhiều sen trắng.”
59.
59.
59.
‘‘Taṃ āpagā anupariyanti sabbadā, sītodakā vālukasanthatā nadī;
Ambā ca sālā tilakā ca jambuyo, uddālakā pāṭaliyo ca phullā.
Rivers with cool water, with sandy beds, always flow around that place. Mangoes, sal trees, tilaka trees, rose-apples, cassia trees, and trumpet flower trees are all in bloom.
“Các dòng sông nước mát, đáy trải cát, luôn chảy quanh nơi ấy. Các cây xoài, sala, tilaka, jambu, uddālaka, và pāṭali đều nở hoa.”
60.
60.
60.
‘‘Taṃ bhūmibhāgehi upetarūpaṃ, vimānaseṭṭhaṃ bhusasobhamānaṃ;
Tassīdha kammassa ayaṃ vipāko, etādisaṃ puññakatā labhanti.
Those who have performed meritorious deeds obtain an excellent mansion, endowed with such regions of earth and shining exceedingly. This here is the result of that very deed; those who have performed meritorious deeds obtain such a result.
“Lâu đài tuyệt hảo, vô cùng lộng lẫy, được trang bị với những vùng đất như thế. Đây là quả báo của nghiệp ấy ở tại đây. Những người làm phước được hưởng quả báo như vậy.”
61.
61.
61.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo, tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā, ye keci manaso piyā.
By that deed, my complexion is such as this; by that, it is accomplished for me here; and whatever enjoyments are dear to my mind arise for me.
“Do nghiệp ấy, tôi có dung sắc như thế này; do nghiệp ấy, mọi sự thành tựu cho tôi ở đây; và các tài sản làm vui thích tâm ý, bất cứ loại nào, đều sanh khởi cho tôi.”
62.
62.
62.
‘‘Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva, manussabhūtā yamakāsi puññaṃ;
Tenamhi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I shall tell you, O bhikkhu of great power, what merit I performed when I was a human being. By that, I am of such radiant power, and my complexion illuminates all directions.
“Thưa Tỳ khưu có đại oai lực, tôi xin trình bày với ngài về phước nghiệp tôi đã làm khi là thân người. Do nghiệp ấy, tôi có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương.”
Dutiyanāvāvimānaṃ sattamaṃ.
The Second Boat Mansion, the Seventh.
Thiên cung con thuyền thứ hai, phẩm thứ bảy.
63.
63.
63.
64.
64.
64.
65.
65.
65.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
“By what is your complexion of such a kind? By what is the fruit of your good conduct accomplished here? And by what do all enjoyments that are dear to the mind arise for you?”
“Do đâu vị có dung sắc như thế này, do đâu mọi sự thành tựu cho vị ở đây? Và các tài sản làm vui thích tâm ý, bất cứ loại nào, đều sanh khởi cho vị?”
66.
66.
66.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“I ask you, O goddess of great power, what merit did you perform when you were a human being? By what are you of such radiant power, and by what does your complexion illuminate all directions?”
“Này thiên nữ có đại oai lực, tôi xin hỏi vị, khi là thân người vị đã làm phước gì? Do đâu vị có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của vị tỏa sáng khắp mọi phương?”
67.
67.
67.
Sā devatā attamanā, sambuddheneva pucchitā;
Pañhaṃ puṭṭhā viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That goddess, delighted, having been questioned by the Perfectly Enlightened One himself, when asked the question, explained the deed of which this is the fruit.
Vị thiên nữ ấy, được chính Đức Chánh Đẳng Giác hỏi, với tâm hoan hỷ, đã giải thích câu hỏi được nêu ra, (về) nghiệp nào đã có quả này.
68.
68.
68.
69.
69.
69.
70.
70.
70.
71.
71.
71.
72.
72.
72.
73.
73.
73.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo, tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā, ye keci manaso piyā.
“By that, my complexion is of such a kind; by that, the fruit of my good conduct is accomplished here; and by that, all enjoyments that are dear to the mind arise for me.”
Do nhân ấy, tôi có dung sắc như thế này. Do nhân ấy, điều (mong muốn) của tôi được thành tựu ở đây. Và các tài sản nào khả ái đối với tâm ý đều được sanh khởi cho tôi.
74.
74.
74.