Bản dịch
VV 67 — Thiên Cung của Người Bố Thí Trái Cây
3. Phaladāyakavimānavatthu
BJT 1061“Thiên cung này cao, có cây trụ bằng ngọc ma-ni, ở xung quanh mười sáu do-tuần, có bảy trăm ngôi nhà mái nhọn cao sang với các cây cột làm bằng ngọc bích, được trải lót bằng vàng, xinh đẹp.
BJT 1062Ở nơi ấy, ngươi trú ngụ, ngươi uống, và ngươi ăn. Còn có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào. Có tám nhóm, mỗi nhóm tám cô tiên nữ, sống ở cõi Ba Mươi (Ba), cao sang, đã được học tập, có dáng vóc nghiêm trang, nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển.
BJT 1063Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1064Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1065“Người bố thí trái cây đạt được quả báo dồi dào trong khi bố thí với tâm ý thanh tịnh đến những vị đã thực hành nghiêm chỉnh, chính người ấy, đã đi đến cõi Trời, vui sướng ở cõi Ba Mươi (Ba). Thưa bậc đại hiền trí, tương tự y như thế, tôi đã dâng cúng bốn trái cây, và tôi thọ hưởng quả phước dồi dào.
BJT 1066Chính vì thế, là quá đủ để người mong cầu hạnh phúc bố thí trái cây thường xuyên, là người đang ước nguyện các hạnh phúc thuộc cõi Trời, hay là đang mong muốn trạng thái giàu sang thuộc loài người.
BJT 1067Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1068Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Người Bố Thí Trái Cây.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Phaladāyakavimānavatthu
3. The Story of the Mansion of the Giver of Fruit
3. Chuyện Thiên Cung Của Người Dâng Cúng Trái Cây
1060.
1060.
1060.
‘‘Uccamidaṃ maṇithūṇaṃ vimānaṃ, samantato soḷasa yojanāni;
Kūṭāgārā sattasatā uḷārā, veḷuriyathambhā rucakatthatā subhā.
“High is this mansion with pillars of gems, sixteen yojanas all around. There are seven hundred excellent pinnacled chambers with pillars of beryl, beautifully floored with delightful golden planks.
‘Thiên cung này có cột trụ bằng ngọc báu, cao lớn, bốn phía rộng mười sáu do-tuần. Có bảy trăm lầu đài nguy nga, cột bằng ngọc lưu ly, sàn lát vàng ròng, thật là tráng lệ.’
1061.
1061.
1061.
‘‘Tatthacchasi pivasi khādasi ca, dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṃ;
Aṭṭhaṭṭhakā sikkhitā sādhurūpā, dibbā ca kaññā tidasacarā uḷārā;
Naccanti gāyanti pamodayanti.
“There you dwell, you drink and eat, and divine lutes play sweetly. Sixty-four skilled, graceful, and excellent divine maidens, who frequent the realm of the Tidasā devas, dance, sing, and bring you delight.
‘Tại đó, ngài ở, ngài uống, và ngài ăn; các cây đàn trời tấu lên những âm thanh ngọt ngào. Sáu mươi bốn thiên nữ, được huấn luyện kỹ càng, xinh đẹp, lộng lẫy, cư ngụ ở cõi trời Ba Mươi Ba, họ nhảy múa, ca hát, và làm cho ngài vui thích.’
1062.
1062.
1062.
‘‘Deviddhipattosi mahānubhāvo, manussabhūto kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvo, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“You have attained divine power and are of great majesty. When you were a human being, what meritorious deed did you perform? By what are you of such radiant power, and by what does your complexion illuminate all directions?”
‘Ngài đã đạt được thần lực của chư thiên, có đại oai lực. Khi còn là người, ngài đã làm phước gì? Do đâu ngài có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương?’
1063.
1063.
1063.
So devaputto attamano…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devaputta, with a delighted mind, having been questioned by Moggallāna, answered the question put to him, explaining of which kamma this is the result.
Vị thiên tử ấy, với tâm hoan hỷ... (v.v.)... (đã giải thích) nghiệp nào đã đưa đến quả này.
1064.
1064.
1064.
‘‘Phaladāyī phalaṃ vipulaṃ labhati, dadamujugatesu pasannamānaso;
So hi pamodati † saggagato tidive †, anubhoti ca puññaphalaṃ vipulaṃ.
“The giver of fruit obtains an abundant result, giving with a serene mind to those who are upright. Indeed, having gone to the heavenly world, he rejoices in the Tāvatiṃsa realm and experiences the abundant fruit of his merit.
‘Người dâng cúng trái cây, với tâm trong sạch dâng lên các bậc ngay thẳng, sẽ nhận được quả báo to lớn. Người ấy, sau khi sanh về cõi trời, hoan hỷ trong cõi Ba Mươi Ba, và hưởng thụ quả phước dồi dào.’
1065.
1065.
1065.
‘‘Tavevāhaṃ † mahāmuni, adāsiṃ caturo phale.
“O Great Sage, it was to you that I gave four fruits.
‘Thưa bậc Đại đức, chính con đã dâng cúng bốn quả xoài đến ngài.’
1066.
1066.
1066.
‘‘Tasmā hi phalaṃ alameva dātuṃ, niccaṃ manussena sukhatthikena;
Dibbāni vā patthayatā sukhāni, manussasobhaggatamicchatā vā.
“Therefore, it is indeed fitting for a person who seeks happiness—whether aspiring to divine bliss or wishing for human good fortune—to always give fruit.
‘Do đó, người tìm cầu hạnh phúc, hoặc mong muốn niềm vui cõi trời, hoặc ước ao sự may mắn ở cõi người, thì nên luôn luôn dâng cúng trái cây.’
1067.
1067.
1067.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“Because of that deed, I have such a complexion... and my complexion illuminates all directions.”
‘Do nhân ấy, dung sắc của tôi được như thế này... (v.v.)... và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương.’
Phaladāyakavimānaṃ tatiyaṃ.
The story of the mansion of the giver of fruit, the third, is concluded.
Chuyện Thiên Cung Của Người Dâng Cúng Trái Cây, là chuyện thứ ba.