Bản dịch
VV 63 — Thiên Cung Cỗ Xe Nhỏ
13. Cūḷarathavimānavatthu
BJT 982“Với cây cung vững chắc, ngươi đứng, tựa vào cây cung bằng gỗ lõi. Vậy ngươi là vị Sát-đế-lỵ con của đức vua, hay là thợ săn sống ở rừng?”
BJT 983“Thưa ngài, tôi là con trai của vị chúa tể xứ Assaka, sống ở rừng. Thưa vị tỳ khưu, tôi nói với ngài tên của tôi; mọi người đã biết tôi là ‘Sujāta.’
BJT 984Trong khi tìm kiếm các con thú rừng, trong khi đi sâu vào khu rừng bao la, và tôi đã không nhìn thấy con nai ấy; sau khi nhìn thấy ngài, tôi đã đứng lại.”
BJT 985“Này người có phước báu lớn lao, việc đi đến của ngươi là tốt đẹp, hơn nữa đối với ngươi không phải là việc đi đến sai trái. Ngươi hãy lấy nước từ nơi này, rồi rửa sạch các bàn chân của ngươi.
BJT 986Còn đây là nước uống mát lạnh đã được mang lại từ hang núi. Này hoàng tử, từ nơi ấy, sau khi uống xong, ngươi hãy đến ngồi ở tấm trải này.”
BJT 987“Thưa bậc đại hiền trí, lời nói của ngài quả là tốt lành, nên được lắng nghe, không sai sót, và có lợi ích, ngọt ngào; ngài nói điều lợi ích sau khi đã suy xét.
BJT 988Ngài có niềm vui thú gì trong khi sống ở rừng? Thưa vị chúa của các bậc ẩn sĩ, đã được hỏi, xin ngài hãy nói. Sau khi lắng nghe đường lối trình bày của ngài, chúng tôi tự thực hành mục đích và đạo lộ của Giáo Pháp.”
BJT 989“Này hoàng tử, sự không hãm hại tất cả các sanh mạng khiến chúng tôi vui thích, và sự kiêng cữ về việc trộm cắp, tà hạnh, và uống chất say.
BJT 990Sự kiêng cữ, sự hành thiện, sự nghe nhiều, sự biết ơn về việc đã làm, là được khen ngợi ngay trong hiện tại; các pháp này là đáng được khen ngợi.
BJT 991Này hoàng tử, ngươi hãy nhận biết rằng trong vòng năm tháng, cái chết sẽ cận kề ngươi, ngươi hãy giải thoát bản thân.”
BJT 992“Tôi nên đi đến xứ sở nào, (nên làm) việc gì và (phận sự) gì của người nam, hoặc là nhờ vào kiến thức gì tôi có thể trở thành không già không chết?”
BJT 993“Này hoàng tử, lãnh địa ấy, việc làm, kiến thức, và (phận sự) của người nam, nơi mà sau khi đi đến con người có thể trở thành không già không chết thì không có.
BJT 994Những người có tài sản lớn, có của cải lớn, thậm chí những Sát-đế-lỵ cai quản vương quốc, có dồi dào tài sản và lúa gạo, ngay cả những người ấy cũng không trở thành không già không chết.
BJT 995Nếu ngươi đã được nghe về những người con trai của Andhakaveṇhu là dũng cảm, anh hùng, có sự chiến đấu mãnh liệt, ngay cả các vị ấy, (trong khi) được xem là trường cửu, cũng đã đạt đến sự cạn kiệt của tuổi thọ, cũng bị tiêu hoại.
BJT 996Các vị Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, thương buôn, nô lệ, hạ tiện, hốt rác, những người này và những người khác là do sự sanh ra, ngay cả những người ấy cũng không trở thành không già không chết.
BJT 997Những người nào trì tụng chú thuật (Vệ Đà) gồm sáu phần đã được nghĩ ra bởi đấng Tạo Hóa, những người này và những người khác là do kiến thức, ngay cả những người ấy cũng không trở thành không già không chết.
BJT 998Hoặc ngay cả những vị ẩn sĩ là các đạo sĩ khổ hạnh, có sự an tịnh, có bản thân đã được kiềm chế, ngay cả những vị đạo sĩ khổ hạnh ấy cũng lìa bỏ cơ thể theo thời gian.
BJT 999Ngay cả những vị A-la-hán có bản thân đã được tu tập, có phận sự đã được làm xong, không còn lậu hoặc, cũng quăng bỏ thân xác này do sự diệt tận của thiện và ác.”
BJT 1000“Thưa vị đại hiền trí, các câu kệ ngôn của ngài là khéo được nói lên, có sự lợi ích. Tôi được thuyết phục vì điều đã được khéo thuyết, và xin ngài hãy là nơi nương nhờ của tôi.”
BJT 1001“Ngươi chớ đi đến nương nhờ ta, hãy tiến đến nương nhờ chính vị ấy, người con trai dòng Sakya, bậc Đại Anh Hùng, người mà ta đã đi đến nương nhờ.”
BJT 1002“Thưa ngài, bậc Đạo Sư ấy của ngài là ở xứ sở nào? Tôi cũng sẽ đi để diện kiến đấng Chiến Thắng, bậc không người đối thủ.”
BJT 1003“Với sự xuất thân từ dòng tộc Okkāka ở xứ sở thuộc về phía đông, Ngài đã là bậc siêu nhân ở nơi ấy, và Ngài quả thật đã viên tịch Niết Bàn.”
BJT 1004“Thưa ngài, nếu đức Phật, bậc Đạo Sư của Ngài còn hiện tiền, tôi có thể đi hàng ngàn do-tuần để hầu cận.
BJT 1005Thưa ngài, chính vì bậc Đạo Sư của Ngài đã viên tịch Niết Bàn, tôi cũng đi đến nương nhờ bậc Đại Anh Hùng mặc dầu Ngài đã Niết Bàn.
BJT 1006Tôi đi đến nương nhờ đức Phật, luôn cả Giáo Pháp vô thượng, và tôi đi đến nương nhờ Hội Chúng thuộc về vị Trời của nhân loại.
BJT 1007Tôi lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, tôi xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, tôi không nói lời dối trá, và tôi vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
BJT 1008“Tựa như vật có ngàn ánh hào quang (mặt trời), giống như ánh sáng vĩ đại, trong khi di chuyển theo quỹ đạo ở bầu trời, chiếu sáng như thế nào, bằng cách thức như thế ấy, cỗ xe vĩ đại này của ngươi được trải dài bảy do tuần ở xung quanh.
BJT 1009Được phủ lên toàn bộ với những mảnh vàng; ngực của cỗ xe này được tô điểm với những viên ngọc trai, với những ngọc ma-ni; những nét khắc chạm của vàng và bạc, được làm bằng ngọc bích, đã khéo được biến hóa, khiến cho (cỗ xe) trở nên rực rỡ.
BJT 1010Phần đầu này (của cái gọng xe) được cấu tạo bằng ngọc bích, và cái ách này được tô điểm với hồng ngọc, và còn thêm những con ngựa này, có tốc độ của ý, được thắng cương bằng vàng và bạc, chói sáng.
BJT 1011Ngươi đây đứng ở cỗ xe bằng vàng, đã được khẳng định, tựa như vị Chúa của chư Thiên với cỗ xe một ngàn ngựa. Này vị có danh tiếng, ta hỏi ngươi, con người thông thái, làm thế nào ngươi đã đạt được (danh vọng) cao sang này?”
BJT 1012“Thưa ngài, tôi tên là Sujāta. Trước đây, tôi đã là vị hoàng tử. Và ngài, do lòng thương tưởng, đã hướng dẫn tôi vào sự kiềm chế.
BJT 1013Và sau khi biết tôi có tuổi thọ đã bị cạn kiệt, ngài trao cho (tôi) xá-lợi của bậc Đạo Sư (nói rằng): ‘Này Sujāta, hãy tôn vinh vật này; vật này sẽ đem lại lợi ích cho ngươi.’
BJT 1014Sau khi tôn vinh vật ấy bằng những vật thơm, bằng những tràng hoa, tôi đây được hưng phấn. Sau khi lìa bỏ xác thân nhân loại, tôi được sanh lên (khu vườn) Nandana.
BJT 1015Ở khu vườn Nandana đáng yêu, được những bầy chim khác nhau gắn bó, được tôn vinh bởi các tiên nữ, tôi thích thú với những điệu múa lời ca.”
Thiên Cung Cỗ Xe Nhỏ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
13. Cūḷarathavimānavatthu
13. The Story of the Lesser Chariot Mansion
13. Câu chuyện Thiên cung Cỗ xe nhỏ
981.
981.
981.
‘‘Daḷhadhammā nisārassa, dhanuṃ olubbha tiṭṭhasi;
Khattiyo nusi rājañño, adu luddo vanecaro’’ti †.
“O you with the strong bow, you stand leaning on a bow of heartwood. Are you a Khattiya, or a prince? Or else, are you a cruel hunter who roams the forest?”
“Ngươi đang đứng tựa vào cây cung làm bằng gỗ lõi chắc chắn. Ngươi có phải là một vị vua Sát-đế-lợi, một hoàng tử, hay là một thợ săn sống trong rừng?”
982.
982.
982.
‘‘Assakādhipatissāhaṃ, bhante putto vanecaro;
Nāmaṃ me bhikkhu te brūmi, sujāto iti maṃ vidū †.
“Venerable sir, I am the son of the lord of Assaka, one who roams in the forest. O monk, I tell you my name: people know me as Sujāta.
“Bạch ngài, con là con trai của vua xứ Assaka, một người sống trong rừng. Thưa Tỳ khưu, con xin nói tên của con cho ngài biết, mọi người biết con tên là Sujāta.”
983.
983.
983.
‘‘Mige gavesamānohaṃ, ogāhanto brahāvanaṃ;
Migaṃ tañceva † nāddakkhiṃ, tañca disvā ṭhito aha’’nti.
“Searching for game, I entered the great forest. I did not see that deer, but having seen you, I am standing here.”
“Con đang tìm kiếm thú rừng, đi sâu vào khu rừng lớn. Con đã không thấy con thú nào, nhưng khi thấy ngài, con đã dừng lại.”
984.
984.
984.
‘‘Svāgataṃ te mahāpuñña, atho te adurāgataṃ;
Etto udakamādāya, pāde pakkhālayassu te.
“Welcome to you, O one of great merit; furthermore, your coming is not unwelcome. Taking water from here, please wash your feet.
“Chào mừng ngài, hỡi người có nhiều phước đức, chuyến đi của ngài thật tốt đẹp. Hơn nữa, chuyến đi của ngài không phải là không tốt đẹp. Xin hãy lấy nước từ đây và rửa chân.”
985.
985.
985.
‘‘Idampi pānīyaṃ sītaṃ, ābhataṃ girigabbharā;
Rājaputta tato pitvā †, santhatasmiṃ upāvisā’’ti.
“This drinking water is cool, brought from a mountain gorge. O Prince, having drunk from it, please sit upon the spread.”
“Nước uống này mát lạnh, được mang về từ hang núi. Hỡi hoàng tử, sau khi uống nước này, xin hãy ngồi xuống trên tấm lót đã được trải sẵn.”
986.
986.
986.
‘‘Kalyāṇī vata te vācā, savanīyā mahāmuni;
Nelā atthavatī † vaggu, mantvā † atthañca bhāsasi †.
“O great sage, your speech is indeed beautiful, worthy of being heard. It is flawless, meaningful, and pleasant. Having understood, you speak what is beneficial.
“Bạch Đại đức, lời nói của ngài thật là thiện lành, đáng để lắng nghe. Lời nói ấy không có lỗi lầm, có ý nghĩa, và ngọt ngào. Ngài nói lời có ý nghĩa sau khi đã hiểu rõ.”
987.
987.
987.
‘‘Kā te rati vane viharato, isinisabha vadehi puṭṭho;
Tava vacanapathaṃ nisāmayitvā, atthadhammapadaṃ samācaremase’’ti.
“What is your delight, dwelling in the forest, O bull among sages? Speak, when asked. Having listened to your path of speech, we shall practice well the path of Dhamma and its meaning.”
“Thưa bậc ẩn sĩ cao quý, niềm vui của ngài khi sống trong rừng là gì? Khi được hỏi, xin ngài hãy trả lời. Sau khi lắng nghe lời dạy của ngài, chúng con sẽ thực hành con đường Pháp lợi ích.”
988.
988.
988.
‘‘Ahiṃsā sabbapāṇīnaṃ, kumāramhāka ruccati;
Theyyā ca aticārā ca, majjapānā ca ārati.
“O prince, non-harming towards all beings is pleasing to us, as is abstinence from theft, sexual misconduct, and the drinking of intoxicants.
“Này hoàng tử, chúng tôi ưa thích việc không làm hại tất cả chúng sanh. Chúng tôi ưa thích việc từ bỏ trộm cắp, tà dâm, và uống rượu.”
989.
989.
989.
‘‘Ārati samacariyā ca, bāhusaccaṃ kataññutā;
Diṭṭheva dhamme pāsaṃsā, dhammā ete pasaṃsiyāti.
“Abstinence, righteous conduct, great learning, and gratitude: these qualities are praised in this very life; these are the qualities praised by the wise.”
“Sự từ bỏ (điều ác), sự thực hành đúng đắn, sự học rộng, và lòng biết ơn; những pháp này đáng được tán thán ngay trong đời hiện tại, những pháp này thật đáng ca ngợi.”
990.
990.
990.
‘‘Santike maraṇaṃ tuyhaṃ, oraṃ māsehi pañcahi;
Rājaputta vijānāhi, attānaṃ parimocayā’’ti.
“Death is near to you; you will live for less than five months. O prince, understand this and liberate yourself.”
“Cái chết đang ở gần ngươi, trong vòng năm tháng nữa. Hỡi hoàng tử, hãy biết điều này và hãy giải thoát cho chính mình.”
991.
991.
991.
‘‘Katamaṃ svāhaṃ janapadaṃ gantvā, kiṃ kammaṃ kiñca porisaṃ;
Kāya vā pana vijjāya, bhaveyyaṃ ajarāmaro’’ti.
“To what country should I go? Having done what deed and what manly effort, or by what knowledge, might I become ageless and immortal?”
“Con nên đi đến xứ nào, làm công việc gì, hay nỗ lực nào, hoặc bằng kiến thức nào, để có thể trở nên không già, không chết?”
992.
992.
992.
‘‘Na vijjate so padeso, kammaṃ vijjā ca porisaṃ;
Yattha gantvā bhave macco, rājaputtājarāmaro.
“O prince, there exists no such place where a mortal, having gone, might become ageless and immortal. Nor does there exist such a deed, knowledge, or manly effort.”
“Hỡi hoàng tử, không có nơi nào, không có hành động, kiến thức, hay nỗ lực nào mà khi đến đó, một người có thể trở nên không già, không chết.”
993.
993.
993.
‘‘Mahaddhanā mahābhogā, raṭṭhavantopi khattiyā;
Pahūtadhanadhaññāse, tepi no † ajarāmarā.
Even those Khattiyas of great wealth and great possessions, who possess kingdoms and have abundant riches and grain—they too are not ageless and deathless.
“Ngay cả những vị vua Sát-đế-lợi có của cải lớn, tài sản lớn, cai trị các vương quốc, và có nhiều tiền bạc và ngũ cốc, họ cũng không thoát khỏi già và chết.”
994.
994.
994.
‘‘Yadi te sutā andhakaveṇḍuputtā †, sūrā vīrā vikkantappahārino;
Tepi āyukkhayaṃ pattā, viddhastā sassatīsamā.
If you have heard of the Andhakaveṇḍuputtas—valiant, heroic, and accustomed to overwhelming their foes—even they, who were like the perpetual sun and moon, reached the end of their lifespan and were destroyed.
“Nếu ngươi đã từng nghe về các con trai của Andhakaveṇḍu, những người dũng cảm, anh hùng, và có sức tấn công mạnh mẽ; ngay cả họ, những người được cho là vĩnh cửu, cũng đã đi đến chỗ tận cùng của mạng sống và bị hủy diệt.”
995.
995.
995.
‘‘Khattiyā brāhmaṇā vessā, suddā caṇḍālapukkusā;
Ete caññe ca jātiyā, tepi no ajarāmarā.
Khattiyas, Brāhmaṇas, Vessas, Suddas, Caṇḍālas, and Pukkusas—these and others by birth, they too are not ageless and deathless.
“Những người thuộc giai cấp Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la và Pukkusa; những người này và những người thuộc các giai cấp khác, họ cũng không thoát khỏi già và chết.”
996.
996.
996.
‘‘Ye mantaṃ parivattenti, chaḷaṅgaṃ brahmacintitaṃ;
Ete caññe ca vijjāya, tepi no ajarāmarā.
Those who recite the mantras with their six auxiliary sciences, conceived by the great sages—these and others who possess such knowledge, they too are not ageless and deathless.
“Những người tụng đọc các câu thần chú do các vị Phạm thiên nghĩ ra, gồm sáu phần; những người này và những người khác có kiến thức, họ cũng không thoát khỏi già và chết.”
997.
997.
997.
‘‘Isayo cāpi ye santā, saññatattā tapassino;
Sarīraṃ tepi kālena, vijahanti tapassino.
And those sages who are peaceful, self-controlled, and ascetic—even those ascetics, in due time, abandon the body.
“Ngay cả những vị ẩn sĩ đã được an tịnh, tự chủ, và khổ hạnh; những vị khổ hạnh ấy, khi đến thời, cũng phải từ bỏ thân xác này.”
998.
998.
998.
‘‘Bhāvitattāpi arahanto, katakiccā anāsavā;
Nikkhipanti imaṃ dehaṃ, puññapāpaparikkhayā’’ti.
Even Arahants with developed minds, who have done what was to be done and are free from taints—they too lay down this body due to the exhaustion of merit and demerit.
“Ngay cả các bậc A-la-hán, những vị đã tu tập tự thân, đã làm xong việc cần làm, không còn lậu hoặc; các ngài cũng phải đặt xuống thân này, do sự đoạn tận của phước và tội.”
999.
999.
999.
‘‘Subhāsitā atthavatī, gāthāyo te mahāmuni;
Nijjhattomhi subhaṭṭhena, tvañca me saraṇaṃ bhavā’’ti.
O great sage, your verses are well-spoken and meaningful. I am persuaded by your excellent words. May you be my refuge.
“Bạch Đại đức, những câu kệ của ngài được khéo nói và đầy ý nghĩa. Con đã được thấu hiểu nhờ ý nghĩa tốt đẹp này. Xin ngài hãy là nơi nương tựa cho con.”
1000.
1000.
1000.
‘‘Mā maṃ tvaṃ saraṇaṃ gaccha, tameva saraṇaṃ vaja †;
Sakyaputtaṃ mahāvīraṃ, yamahaṃ saraṇaṃ gato’’ti.
Do not go to me for refuge. Go for refuge to that very one to whom I have gone for refuge: the son of the Sakyans, the great hero.
“Ngươi đừng quy y nơi ta, hãy quy y nơi vị ấy, bậc Thích tử, đấng Đại hùng, người mà ta đã quy y.”
1001.
1001.
1001.
‘‘Katarasmiṃ so janapade, satthā tumhāka mārisa;
Ahampi daṭṭhuṃ gacchissaṃ, jinaṃ appaṭipuggala’’nti.
Venerable sir, in what country does your Teacher dwell? I too will go to see the Conqueror, the incomparable person.
“Thưa ngài, vị Đạo sư của ngài ở xứ nào? Con cũng sẽ đi để diện kiến bậc Chiến Thắng, đấng Vô song.”
1002.
1002.
1002.
‘‘Puratthimasmiṃ janapade, okkākakulasambhavo;
Tatthāsi purisājañño, so ca kho parinibbuto’’ti.
In the eastern country there was a thoroughbred among men, born of the Okkāka clan. And he, indeed, has attained Parinibbāna.
“Ở xứ phương Đông, có một bậc nhân kiệt xuất thân từ dòng dõi Okkāka. Nhưng vị ấy đã nhập Niết-bàn.”
1003.
1003.
1003.
‘‘Sace hi buddho tiṭṭheyya, satthā tumhāka mārisa;
Yojanāni sahassāni, gaccheyyaṃ † payirupāsituṃ.
Revered sir, if your Teacher, the Buddha, were indeed still present, I would go thousands of yojanas to attend upon him.
“Thưa ngài, nếu vị Đạo sư của ngài, Đức Phật, vẫn còn tại thế, con sẽ đi hàng ngàn do-tuần để hầu cận ngài.”
1004.
1004.
1004.
‘‘Yato ca kho † parinibbuto, satthā tumhāka mārisa;
Nibbutampi † mahāvīraṃ, gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
But since your Teacher, revered sir, has indeed attained Parinibbāna, I go for refuge to the great hero, even though he has attained Parinibbāna.
“Thưa ngài, vì vị Đạo sư của ngài đã nhập Niết-bàn, con xin quy y nơi đấng Đại hùng, dù ngài đã nhập Niết-bàn.”
1005.
1005.
1005.
‘‘Upemi saraṇaṃ buddhaṃ, dhammañcāpi anuttaraṃ;
Saṅghañca naradevassa, gacchāmi saraṇaṃ ahaṃ.
I go to the Buddha for refuge, and also to the unsurpassed Dhamma; and to the Sangha of the Deva of Men, I go for refuge.
“Con xin quy y Phật, và quy y Pháp vô thượng. Con xin quy y Tăng của bậc Thiên nhân sư.”
1006.
1006.
1006.
‘‘Pāṇātipātā viramāmi khippaṃ, loke adinnaṃ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi, sakena dārena ca homi tuṭṭho’’ti.
I quickly abstain from the destruction of life; I avoid what is not given in the world; I am not a drinker of intoxicants, nor do I speak falsely; and I am content with my own wife.
“Con xin nhanh chóng từ bỏ sát sanh, con xin tránh xa việc lấy của không cho ở trên đời. Con không uống rượu và không nói dối, và con sẽ hài lòng với vợ của mình.”
1007.
1007.
1007.
‘‘Sahassaraṃsīva yathā mahappabho, disaṃ yathā bhāti nabhe anukkamaṃ;
Tathāpakāro † tavāyaṃ † mahāratho, samantato yojanasattamāyato.
Just as the thousand-rayed one of great splendor shines in the sky, traversing in due course and illuminating the directions, so too is this great chariot of yours, extending seven yojanas all around.
“Giống như mặt trời ngàn tia, với ánh sáng vĩ đại, chiếu sáng khắp các phương trời khi di chuyển trên bầu trời; cỗ xe lớn của ngài cũng giống như vậy, rộng bảy do-tuần khắp mọi phía.”
1008.
1008.
1008.
‘‘Suvaṇṇapaṭṭehi samantamotthaṭo, urassa muttāhi maṇīhi cittito;
Lekhā suvaṇṇassa ca rūpiyassa ca, sobhenti veḷuriyamayā sunimmitā.
It is covered all around with golden plates; its chest is adorned with pearls and jewels. Well-crafted lines of beryl, gold, and silver make it beautiful.
Cỗ xe được bao phủ khắp nơi bằng những tấm vàng, phần ngực xe được trang điểm bằng ngọc trai và châu báu; những đường nét bằng vàng và bạc, được chế tác khéo léo bằng ngọc lưu ly, làm cho cỗ xe thêm lộng lẫy.
1009.
1009.
1009.
‘‘Sīsañcidaṃ veḷuriyassa nimmitaṃ, yugañcidaṃ lohitakāya cittitaṃ;
Yuttā suvaṇṇassa ca rūpiyassa ca, sobhanti assā ca ime manojavā.
This head-part is made of beryl, and this yoke is adorned with rubies. And these horses, swift as the mind, harnessed with gold and silver, shine beautifully.
Phần đầu của cỗ xe này được làm bằng ngọc lưu ly, ách xe này được trang điểm bằng hồng ngọc; những con ngựa này, nhanh như ý nghĩ, được trang bị bằng vàng và bạc, làm cho cỗ xe thêm lộng lẫy.
1010.
1010.
1010.
‘‘So tiṭṭhasi hemarathe adhiṭṭhito, devānamindova sahassavāhano;
Pucchāmi tāhaṃ yasavanta kovidaṃ †, kathaṃ tayā laddho ayaṃ uḷāro’’ti.
You stand established on this golden chariot, like the lord of devas with his thousand steeds. I ask you, O glorious and wise one, how was this magnificent glory obtained by you?
Ngài ngự trên cỗ xe vàng, uy nghi lẫm liệt, như Thiên chủ Đế Thích với ngàn ngựa kéo; hỡi bậc hiền trí danh tiếng, tôi xin hỏi ngài: do đâu mà ngài có được sự huy hoàng vĩ đại này?
1011.
1011.
1011.
‘‘Sujāto nāmahaṃ bhante, rājaputto pure ahuṃ;
Tvañca maṃ anukampāya, saññamasmiṃ nivesayi.
Venerable sir, formerly I was a prince named Sujāta. And you, out of compassion for me, established me in self-restraint.
Bạch ngài, kiếp trước con là một vương tử tên Sujāta; và chính ngài, vì lòng bi mẫn, đã hướng dẫn con vào sự thu thúc (giới hạnh).
1012.
1012.
1012.
‘‘Khīṇāyukañca maṃ ñatvā, sarīraṃ pādāsi satthuno;
Imaṃ sujāta pūjehi, taṃ te atthāya hehiti.
And knowing me to be one whose lifespan was exhausted, you gave me the Teacher's bodily relic, saying: 'Sujāta, pay homage to this; it will be for your welfare.'
Biết rằng mạng sống của con sắp hết, ngài đã trao cho con xá-lợi của Bậc Đạo Sư và dạy rằng: 'Này Sujāta, hãy cúng dường xá-lợi này, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho con'.
1013.
1013.
1013.
‘‘Tāhaṃ gandhehi mālehi, pūjayitvā samuyyuto;
Pahāya mānusaṃ dehaṃ, upapannomhi nandanaṃ.
I, being diligent, having paid homage with perfumes and garlands, abandoned the human body and have arisen in the Nandana grove.
Con đã tinh tấn cúng dường xá-lợi ấy bằng hương và hoa; sau khi từ bỏ thân người, con đã được tái sanh vào vườn Nandana.
1014.
1014.
1014.
‘‘Nandane ca vane † ramme, nānādijagaṇāyute;
Ramāmi naccagītehi, accharāhi purakkhato’’ti.
And in the delightful Nandana grove, frequented by flocks of various birds, I delight with dance and song, surrounded by nymphs.
Và trong khu vườn Nandana khả ái, nơi có nhiều đàn chim khác nhau, con vui hưởng với vũ điệu và ca hát, được các tiên nữ Apsara vây quanh.
Cūḷarathavimānaṃ terasamaṃ.
The Lesser Chariot Mansion, the thirteenth.
Thiên cung Tiểu Xa, phẩm thứ mười ba.