Bản dịch
VV 62 — Thiên Cung Long Tượng thứ ba
12. Tatiyanāgavimānavatthu
BJT 977“Vị nào, với phương tiện di chuyển của cõi Trời, với con voi toàn thân màu trắng, có âm thanh vang vang đã được vỗ lên từ các loại nhạc cụ, được tôn vinh ở trên không trung?
BJT 978Phải chăng ngài là Thiên nhân, là nhạc sĩ Thiên đình, hay là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây? Trong khi không biết, chúng tôi xin hỏi ngài, làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết ngài?”
BJT 979“Ta không là Thiên nhân, không là nhạc sĩ Thiên đình, cũng không là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây; những Thiên nhân nào có tên là Sudhammā, ta là một trong số các vị ấy.”
BJT 980“Chúng tôi nghiêm trang chắp tay hỏi vị Thiên nhân Sudhammā, sau khi thực hiện nghiệp gì ở cõi người thì được sanh lên (Thiên cung) Sudhammā?”
BJT 981“Người nào bố thí ngôi nhà mía, ngôi nhà cỏ, và ngôi nhà vải, sau khi bố thí một trong ba việc này thì được sanh lên (Thiên cung) Sudhammā.”
Thiên Cung Long Tượng thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
12. Tatiyanāgavimānavatthu
12. The Story of the Third Elephant Mansion
12. Câu chuyện về Thiên cung Con Voi thứ ba
976.
976.
976.
‘‘Ko nu dibbena yānena, sabbasetena hatthinā;
Turiyatāḷitanigghoso, antalikkhe mahīyati.
“Who indeed is this, with a divine vehicle, an all-white elephant, and the resounding sound of struck musical instruments, who is honored in the sky?
Ai đang được tôn vinh giữa không trung, với tiếng nhạc cụ vang lừng, trên cỗ xe cõi trời, một con voi toàn thân màu trắng?
977.
977.
977.
‘‘Devatā nusi gandhabbo, adu † sakko purindado;
Ajānantā taṃ pucchāma, kathaṃ jānemu taṃ maya’’nti.
“Are you a deva, or a gandhabba, or else Sakka, the giver of gifts in the past? We, not knowing, ask you: How may we know you?”
Ngài có phải là một vị trời, một càn-thát-bà, hay là Sakka, vị ban thí trước kia? Vì không biết, chúng tôi hỏi ngài. Làm thế nào để chúng tôi có thể biết được ngài?
978.
978.
978.
‘‘Namhi devo na gandhabbo, nāpi † sakko purindado;
Sudhammā nāma ye devā, tesaṃ aññataro aha’’nti.
“I am not a deva, nor a gandhabba, nor am I Sakka, the giver of gifts in the past. There are devas named Sudhammā; I am one of them.”
Tôi không phải là một vị trời, không phải là một càn-thát-bà, cũng không phải là Sakka, vị ban thí trước kia. Có những vị trời tên là Sudhammā, tôi là một trong số họ.
979.
979.
979.
‘‘Pucchāma devaṃ sudhammaṃ †, puthuṃ katvāna añjaliṃ;
Kiṃ katvā mānuse kammaṃ, sudhammaṃ upapajjatī’’ti.
“We ask the Sudhammā deva, with hands respectfully joined in añjali: Having done what kamma in the human state, is one reborn among the Sudhammā?”
Chúng tôi chắp tay lại, xin hỏi vị trời Sudhammā: Phải làm nghiệp gì khi còn là người để được sanh vào cõi trời Sudhammā?
980.
980.
980.
‘‘Ucchāgāraṃ tiṇāgāraṃ, vatthāgārañca yo dade;
Tiṇṇaṃ aññataraṃ datvā, sudhammaṃ upapajjatī’’ti.
“Whoever should give a dwelling made of sugarcane, a dwelling made of grass, or a dwelling roofed with cloth—having given any one of the three, one is reborn among the Sudhammā.”
“Người nào dâng cúng trú xá lợp bằng mía, trú xá lợp bằng cỏ, và trú xá lợp bằng vải; sau khi đã dâng cúng một trong ba loại ấy, người ấy được sanh vào cõi trời Sudhamma.”
Tatiyanāgavimānaṃ dvādasamaṃ.
The Third Elephant Mansion is the twelfth.
Thiên cung Nāga thứ ba, là phẩm thứ mười hai.