Bản dịch
VV 64 — Thiên Cung Cỗ Xe Lớn
14. Mahārathavimānavatthu
BJT 1016“Ngươi bước lên cỗ xe xinh đẹp được tô điểm nhiều màu sắc này, chiếc xe ngựa được kéo bởi một ngàn con, đang di chuyển lân cận khu vực vườn hoa, (ngươi) tựa như Vāsava, vị Chúa của chư Thiên, đấng chủ tể của các sanh linh.
BJT 1017Cả hai bên sườn cỗ xe của ngươi được làm bằng vàng, được kết hợp chặt chẽ với những thanh đứng và những thanh ngang, có cái khung được tạo ra khéo léo, đã được hoàn tất bởi nghệ nhân bậc thầy; (cỗ xe) chói sáng tựa như mặt trăng ngày rằm.
BJT 1018Được phủ lên với mạng lưới bằng vàng, được tô điểm với nhiều loại châu ngọc khác nhau, có âm thanh vô cùng vui tai, và vô cùng rực rỡ, cỗ xe này chói sáng với những cánh tay và bàn tay (đang phe phẩy) những cây phất trần.
BJT 1019Và các ổ trục này (của các bánh xe) đã được biến hóa ra bởi ý, được trang hoàng ở khoảng giữa bên trong các chân của cỗ xe; và các ổ trục này được tô điểm với hàng trăm nét vẽ, chúng chiếu sáng với hàng trăm tia sáng, tựa như tia chớp.
BJT 1020Cỗ xe này được trải lên với vô số tranh vẽ, và vành bánh xe là to rộng có ngàn ánh hào quang; âm thanh của chúng có nét dễ thương được nghe tựa như nhạc cụ gồm năm loại đã được tấu lên.
BJT 1021Đã được tô điểm ở phần đầu, được sửa soạn với mặt trăng bằng ngọc ma-ni, luôn luôn được trong sạch, đáng yêu, rực rỡ, được kết hợp dày đặc với các tia sáng bằng vàng, (cỗ xe) chói sáng nổi bật, tựa như có các tia sáng màu ngọc bích.
BJT 1022Và những con ngựa này, được sửa soạn với mặt trăng bằng ngọc ma-ni, cao to, có tốc độ nhanh, tương xứng với số đông, khổng lồ, vĩ đại, có sức mạnh, có tốc lực lớn lao, sau khi biết được tâm ý của ngươi, chúng di chuyển theo y như thế.
BJT 1023Và tất cả những con vật bốn chân này đã được phối hợp, sau khi biết được tâm ý của ngươi chúng di chuyển theo y như thế. Chúng kéo (cỗ xe) một cách đồng đều, chúng nhu thuận, không náo động, vui tính, là hạng nhất trong các loài ngựa.
BJT 1024Chúng giũ (lông), phi nhanh, phóng vào khoảng không, trong lúc làm rung chuyển dữ dội các vật trang sức đã khéo được thực hiện; âm thanh của chúng có nét dễ thương được nghe tựa như nhạc cụ gồm năm loại đã được tấu lên.
BJT 1025Âm vang của cỗ xe và của những vật trang sức, tiếng gầm của vó ngựa và của tiếng hí vang, âm thanh vô cùng dễ thương của (đám đông) đã hội tụ lại được nghe (tựa như) những nhạc cụ của các nhạc sĩ Thiên đình ở khu rừng nhiều màu sắc.
BJT 1026Các nàng (tiên nữ) ấy đứng ở cỗ xe, có những cặp mắt lim dim của loài nai, có hàng mi dày, cười đùa, có lời nói đáng yêu, được che phủ với mạng lưới bằng ngọc bích, có làn da mảnh mai, vẫn luôn luôn được tôn vinh bởi các nhạc sĩ Thiên đình và các vị đứng đầu chư Thiên.
BJT 1027Các nàng ấy, với tấm vải màu đỏ và y phục màu vàng quyến rũ, có cặp mắt to, với con mắt đỏ rực, đã được sanh ra tốt đẹp ở dòng dõi cao sang, có thân hình xinh xắn, có nụ cười vô tư, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1028Các nàng ấy có mang vòng xuyến bằng vàng, có y phục đẹp, có vòng eo đẹp, đùi và ngực đầy đặn, có các ngón tay tròn, khuôn mặt đẹp, có nét xinh xắn, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1029Những nàng khác, trẻ trung, có những bím tóc đẹp, có các sợi tóc được tết vào nhau, và (những cuộn tóc) được phân chia đồng đều, rực rỡ. Các nàng ấy phục tùng, vui thích theo ý định của ngươi, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1030Các nàng có những vòng hoa đội đầu được phủ lên với các sen hồng sen xanh, đã được trang điểm, đã được bôi thơm với tinh chất của trầm hương. Các nàng ấy phục tùng, vui thích theo ý định của ngươi, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1031Các nàng ấy có những tràng hoa được phủ lên với các sen hồng sen xanh, đã được trang điểm, đã được bôi thơm với tinh chất của trầm hương. Các nàng ấy phục tùng, vui thích theo ý định của ngươi, đứng ở cỗ xe, tay chắp lại, đã được sẵn sàng.
BJT 1032Các vật trang sức ở cổ, ở các bàn tay, ở các bàn chân, tương tự y như thế ở đầu, khiến cho mười phương chiếu sáng toàn bộ, tựa như mặt trời mùa thu đang mọc lên.
BJT 1033Và bị lay động bởi lực đẩy của làn gió, các tràng hoa và các vật trang sức ở các cánh tay phát ra âm thanh đáng yêu, trong trẻo, mỹ miều, có vẻ đáng được lắng nghe bởi tất cả những người có sự nhận thức.
BJT 1034Này vị chúa của chư Thiên, các cỗ xe và những con long tượng đứng ở hai bên tại khu đất của vườn hoa, cùng các nhạc cụ và âm thanh làm cho chính ngươi được vui thích, giống như cây đàn vīṇā với mặt đàn, bầu đàn, và cần đàn (làm mọi người được vui thích).
BJT 1035Này vị chúa tể, trong khi các cây đàn vīṇā này, gồm nhiều loại, dễ thương, có hình dáng làm hài lòng, đang được tấu lên dồn dập, gây xáo động trái tim, các nàng tiên nữ, các cô gái đã được học tập, nhởn nhơ giữa các đóa sen.
BJT 1036Và khi các bài ca, các khúc nhạc, và các vũ công này hợp chung lại thành một, khi ấy ở nơi này họ nhảy múa, khi ấy ở nơi này các tiên nữ, những phụ nữ cao quý đang làm cho cả hai nơi chiếu sáng.
BJT 1037Ngươi đây vui thích, với sự đánh thức bởi các nhóm nhạc cụ, trong khi đang được nể vì tựa như vị (thần Inda) có tia sét là vũ khí. Này vị chúa tể, có sự gây xáo động trái tim ở nơi các cây đàn vīṇā gồm nhiều loại, dễ thương, có hình dáng làm hài lòng này.
BJT 1038Trước đây, ngươi đã tự mình tạo nghiệp gì, khi là con người ở kiếp sống trước đây? Hay là ngươi đã hành trì ngày trai giới nào, đã say mê sự thực hành pháp, sự hành trì nào?
BJT 1039Năng lực thần thông lớn lao này của ngươi, điều này không phải là của nghiệp nhỏ nhoi đã được làm, hoặc của ngày trai giới đã được hoàn thành tốt đẹp trong quá khứ, bởi vì ngươi tỏa sáng vượt trội hội chúng chư Thiên.
BJT 1040Quả báo này của ngươi là do sự bố thí, hay là do giới hạnh, hoặc của hành động chắp tay? Được hỏi, xin ngươi hãy giải thích điều ấy cho ta.”
BJT 1041Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã nói rõ quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1042“Đức Phật Kassapa, vị có giác quan đã được chế ngự, có sự ra đi tuyệt vời, đấng Tối Thượng Nhân, nhân vật cao cả, bậc đang mở ra cánh cửa Bất Tử ấy, vị Trời vượt trội các vị Trời, có trăm dấu hiệu phước báu.
BJT 1043Tôi đã nhìn thấy Ngài, đấng Khổng Tượng, người đã vượt qua dòng nước lũ, tương tự hình tượng bóng láng bằng vàng. Sau khi nhìn thấy Ngài, sau khi nhìn thấy chính biểu hiện của (Giáo Pháp) đã khéo được thuyết giảng ấy, tôi đã tức thời trở nên có tâm ý trong sạch.
BJT 1044Ở nơi trú ngụ của mình đã được trải lót bông hoa, tôi đây, với tâm ý không có sự ràng buộc, đã cống hiến đến Ngài cơm ăn, nước uống, và luôn cả y phục sạch sẽ, hảo hạng, được thành tựu phẩm chất.
BJT 1045Sau khi làm toại ý bậc Tối Thượng của các loài hai chân ấy với cơm ăn, với nước uống, và với y phục, với vật nhai, với thức ăn, và với cao lương mỹ vị, tôi đây vui sướng ở thành phố của chư Thiên theo tuần tự của các cõi Trời.
BJT 1046Bằng cách thức này, sau khi dâng hiến việc hiến dâng này không có sự ngần ngại, được trong sạch theo ba cách, sau khi lìa bỏ xác thân nhân loại, tôi vui sướng ở thành phố của chư Thiên tương tự như vị Thần Inda.
BJT 1047Thưa bậc hiền trí, người đang mong mỏi tuổi thọ, sắc đẹp, hạnh phúc, và sức mạnh có hình thức hảo hạng, nên cống hiến nhiều cơm ăn nước uống đã khéo được chuẩn bị ở bậc có tâm ý không có sự ràng buộc.
BJT 1048Ở thế gian này hay là ở đời kế tiếp đi nữa, người đã đi đến trạng thái nên được hiến cúng, xứng đáng với sự hiến cúng tối thượng, (đã đi đến) sự tồn tại ở quả báo to lớn đối với những người mong mỏi phước báu, người là bậc tốt hơn hay tương đương với đức Phật không được biết đến.”
Thiên Cung Cỗ Xe Lớn.
Phẩm Cỗ Xe Lớn là thứ năm.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
(Chuyện Thiên tử) Ếch, Revatī, Chatta, (xúp) cua, người giữ cửa, hai việc nên làm, hai (chuyện) cây kim, ba (chuyện) long tượng, và hai (chuyện) cỗ xe; được gọi là phẩm thứ nhất của những người nam.”
TỤNG PHẨM THỨ BA.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
14. Mahārathavimānavatthu
14. The Story of the Great Chariot Mansion.
14. Câu chuyện về Thiên cung Đại Xa
1015.
1015.
1015.
‘‘Sahassayuttaṃ hayavāhanaṃ subhaṃ, āruyhimaṃ sandanaṃ nekacittaṃ;
Uyyānabhūmiṃ abhito anukkamaṃ, purindado bhūtapatīva vāsavo.
Having mounted this splendid, variously adorned, horse-drawn chariot yoked with a thousand, you traverse around the pleasure ground, like Vāsava, the Giver in Former Times, the Lord of Beings.
Ngài lên cỗ xe lộng lẫy này, được trang hoàng đa dạng, do ngàn ngựa kéo, tiến đến khu vườn, rực rỡ như Vāsava (Đế Thích), vị Chúa của các chúng sanh, người ban tặng trong quá khứ.
1016.
1016.
1016.
‘‘Sovaṇṇamayā te rathakubbarā ubho, phalehi † aṃsehi atīva saṅgatā;
Sujātagumbā naravīraniṭṭhitā, virocatī pannaraseva cando.
Both your chariot-rails are made of gold, exceedingly well-fitted with ends and shoulders. The well-formed clusters, finished by expert men, shine like the moon on the fifteenth day.
Cả hai thành xe của ngài đều làm bằng vàng, được lắp ghép vô cùng khéo léo với các tấm ván và trụ đỡ. Các cụm trang trí được chế tác tinh xảo bởi những người thợ tài hoa. Cỗ xe tỏa sáng như mặt trăng vào ngày rằm.
1017.
1017.
1017.
‘‘Suvaṇṇajālāvatato ratho ayaṃ, bahūhi nānāratanehi cittito;
Sunandighoso ca subhassaro ca, virocatī cāmarahatthabāhubhi.
This chariot is covered with a golden net, adorned with many various gems. It has a pleasing sound and a brilliant nature, and it shines, attended by many holding whisks in their hands.
Cỗ xe này được bao phủ bởi lưới vàng, trang hoàng với nhiều loại châu báu khác nhau. Âm thanh của nó rất du dương và trong trẻo, cỗ xe rực rỡ với nhiều vị trời tay cầm phất trần.
1018.
1018.
1018.
‘‘Imā ca nābhyo manasābhinimmitā, rathassa pādantaramajjhabhūsitā;
Imā ca nābhyo satarājicittitā, sateratā vijjurivappabhāsare.
And these hubs, as if created by mind, are adorned in the space between the chariot's wheels. And these hubs, adorned with a hundred streaks, being manifold, flash like lightning.
Những trục xe này dường như được tạo ra bởi ý nghĩ, trang hoàng ở giữa các bánh xe. Những trục xe này được trang trí với hàng trăm đường nét, và các bánh xe trăm căm tỏa sáng như tia chớp.
1019.
1019.
1019.
‘‘Anekacittāvatato ratho ayaṃ, puthū ca nemī ca sahassaraṃsiko;
Tesaṃ saro suyyati † vaggurūpo, pañcaṅgikaṃ turiyamivappavāditaṃ.
This chariot is covered with many various adornments, and its broad rim is thousand-rayed. Their sweet-sounding noise is heard, like a well-played five-part orchestra.
Cỗ xe này được bao phủ bởi vô số đồ trang trí. Vành xe rộng lớn tỏa ra ngàn tia sáng. Âm thanh du dương của chúng được nghe thấy, giống như tiếng nhạc ngũ âm được hòa tấu điêu luyện.
1020.
1020.
1020.
‘‘Sirasmiṃ cittaṃ maṇicandakappitaṃ, sadā visuddhaṃ ruciraṃ pabhassaraṃ;
Suvaṇṇarājīhi atīva saṅgataṃ, veḷuriyarājīva atīva sobhati.
Upon its head is an adorned ornament fashioned like a jewel-moon, always pure, lovely, and radiant. Exceedingly well-fitted with golden lines, it shines exceedingly, like a line of beryl.
Trên đầu xe có một vật trang trí lộng lẫy, hình như mặt trăng bằng ngọc, luôn tinh khiết, đẹp đẽ và rực rỡ. Nó được kết hợp hài hòa với những đường nét bằng vàng, và tỏa sáng rực rỡ như một đường nét bằng ngọc lưu ly.
1021.
1021.
1021.
‘‘Ime ca vāḷī maṇicandakappitā, ārohakambū sujavā brahūpamā.
Brahā mahantā balino mahājavā, mano tavaññāya tatheva siṃsare †.
And these horses, adorned with jewel-moon ornaments, of fine stature, of excellent speed, comparable to Brahmā; large, great, powerful, and of great swiftness, knowing your mind, they proceed just so.
Và những con ngựa này, được trang trí bằng ngọc hình mặt trăng, thân hình cân đối, nhanh nhẹn, sánh như Phạm thiên. Chúng to lớn, vĩ đại, mạnh mẽ và cực kỳ nhanh chóng. Hiểu được ý ngài, chúng di chuyển theo đúng như vậy.
1022.
1022.
1022.
‘‘Ime ca sabbe sahitā catukkamā, mano tavaññāya tatheva siṃsare;
Samaṃ vahantā mudukā anuddhatā, āmodamānā turagāna † muttamā.
And all these horses, moving together on four feet, knowing your mind, proceed just so. Pulling evenly, gentle and not unruly, rejoicing, they are the best of steeds.
Tất cả những con ngựa này, cùng nhau di chuyển trên bốn chân, hiểu được ý ngài, chúng di chuyển theo đúng như vậy. Chúng kéo xe một cách đều đặn, hiền hòa và vững chãi, là những con tuấn mã tuyệt vời nhất, luôn hoan hỷ.
1023.
1023.
1023.
‘‘Dhunanti vagganti patanti † cambare, abbhuddhunantā sukate piḷandhane;
Tesaṃ saro suyyati vaggurūpo, pañcaṅgikaṃ turiyamivappavāditaṃ.
They shake their manes, they bound, and they leap in the air, vigorously shaking their well-made ornaments. Their sweet-sounding noise is heard, like a well-played five-part orchestra.
Chúng lắc mình, nhảy vọt, và bay lượn trên không, làm rung lên những đồ trang sức được chế tác tinh xảo. Âm thanh du dương của chúng được nghe thấy, giống như tiếng nhạc ngũ âm được hòa tấu điêu luyện.
1024.
1024.
1024.
‘‘Rathassa ghoso apiḷandhanāna ca, khurassa nādo † abhihiṃsanāya ca;
Ghoso suvaggū samitassa suyyati, gandhabbatūriyāni vicitrasaṃvane.
The sound of the chariot and the sound of the ornaments, the clatter of hooves and the sound of neighing, and the very sweet sound of the assembly are heard, like the music of the gandhabbas in the Cittalata grove.
Tiếng của cỗ xe và của đồ trang sức, tiếng vó ngựa và tiếng ngựa hí, tiếng reo hò du dương của đoàn tùy tùng được nghe thấy, giống như tiếng nhạc của các Càn-thát-bà trong vườn Cittalatā.
1025.
1025.
1025.
‘‘Rathe ṭhitā tā migamandalocanā, āḷārapamhā hasitā piyaṃvadā;
Veḷuriyajālāvatatā tanucchavā, sadeva gandhabbasūraggapūjitā.
Standing in the chariot are those with eyes like a young doe, with long, curved eyelashes, smiling and speaking pleasantly. Covered with nets of beryl, with delicate skin, they are honored by devas, gandhabbas, and the foremost suras.
Đứng trên xe là những tiên nữ có đôi mắt như nai tơ, lông mi cong vút, miệng mỉm cười, lời nói khả ái. Thân thể họ được bao phủ bởi lưới ngọc lưu ly, làn da mịn màng, luôn được các Càn-thát-bà và chư thiên tối cao tôn kính.
1026.
1026.
1026.
‘‘Tā rattarattambarapītavāsasā, visālanettā abhirattalocanā;
Kule sujātā sutanū sucimhitā, rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Clad in red and yellow garments, with large eyes, with beautifully reddened eyes, well-born in noble families, with beautiful bodies and pure smiles, they stand in the chariot and attend with hands clasped in reverence.
Họ mặc y phục màu đỏ thẫm và vàng tươi, mắt to tròn, khóe mắt ửng hồng. Họ xuất thân từ dòng dõi cao quý, thân hình xinh đẹp, nụ cười trong sáng. Đứng trên xe, họ chắp tay cung kính hầu cận ngài.
1027.
1027.
1027.
‘‘Tā kambukeyūradharā suvāsasā, sumajjhimā ūruthanūpapannā;
Vaṭṭaṅguliyo sumukhā sudassanā, rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Wearing golden bracelets and armlets, finely dressed, with beautiful waists, endowed with lovely thighs and breasts, with rounded fingers, lovely faces, and beautiful to behold, they stand in the chariot and attend with hands clasped in reverence.
Họ đeo vòng tay bằng xà cừ và trang sức cánh tay, y phục lộng lẫy, eo thon, đùi và ngực đầy đặn. Ngón tay tròn trịa, gương mặt xinh đẹp, dáng vẻ đáng yêu. Đứng trên xe, họ chắp tay cung kính hầu cận ngài.
1028.
1028.
1028.
‘‘Aññā suveṇī susu missakesiyo, samaṃ vibhattāhi pabhassarāhi ca;
Anubbatā tā tava mānase ratā, rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Some with beautiful braids, very young, with mixed tresses, with hair evenly parted and radiant; devoted and delighting your mind, they stand in the chariot and attend with hands clasped in reverence.
Những tiên nữ khác có bím tóc đẹp, rất trẻ trung, mái tóc pha trộn nhiều màu sắc, được rẽ ngôi đều đặn và rực rỡ. Họ hết lòng với ngài, làm vui lòng ngài. Đứng trên xe, họ chắp tay cung kính hầu cận ngài.
1029.
1029.
1029.
‘‘Āveḷiniyo padumuppalacchadā, alaṅkatā candanasāravāsitā †;
Anubbatā tā tava mānase ratā, rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
Wearing ear-ornaments, covered with lotuses and water lilies, adorned, and scented with the essence of sandalwood; devoted and delighting your mind, they stand in the chariot and attend with hands clasped in reverence.
Họ đeo hoa tai, thân thể được che phủ bởi hoa sen hồng và sen xanh, được trang điểm lộng lẫy và tỏa hương thơm từ tinh chất đàn hương. Họ hết lòng với ngài, làm vui lòng ngài. Đứng trên xe, họ chắp tay cung kính hầu cận ngài.
1030.
1030.
1030.
‘‘Tā māliniyo padumuppalacchadā, alaṅkatā candanasāravāsitā;
Anubbatā tā tava mānase ratā, rathe ṭhitā pañjalikā upaṭṭhitā.
They, wearing garlands, covered with lotuses and water lilies, adorned, and scented with the essence of sandalwood; devoted and delighting your mind, they stand in the chariot and attend with hands clasped in reverence.
Họ đeo những tràng hoa, thân thể được che phủ bởi hoa sen hồng và sen xanh, được trang điểm lộng lẫy và tỏa hương thơm từ tinh chất đàn hương. Họ hết lòng với ngài, làm vui lòng ngài. Đứng trên xe, họ chắp tay cung kính hầu cận ngài.
1031.
1031.
1031.
‘‘Kaṇṭhesu te yāni piḷandhanāni, hatthesu pādesu tatheva sīse;
Obhāsayantī dasa sabbaso disā, abbhuddayaṃ sāradikova bhāṇumā.
Whatever ornaments are on your neck, on your hands, on your feet, and likewise on your head, they illuminate the ten directions in every way, like the newly rising autumn sun.
Những đồ trang sức trên cổ, trên tay, trên chân và trên đầu của ngài, tất cả đều chiếu sáng khắp mười phương, giống như mặt trời mùa thu lúc rạng đông.
1032.
1032.
1032.
‘‘Vātassa vegena ca sampakampitā, bhujesu mālā apiḷandhanāni ca;
Muñcanti ghosaṃ rūciraṃ suciṃ subhaṃ, sabbehi viññūhi sutabbarūpaṃ.
Shaken all around by the force of the wind, the garlands and ornaments on your arms release a sound—delightful, pure, and pleasant—a sound worthy of being heard by all the wise skilled in music.
Bị rung chuyển bởi sức gió, những tràng hoa và đồ trang sức trên cánh tay họ phát ra âm thanh du dương, trong trẻo và tuyệt đẹp, một âm thanh xứng đáng để tất cả những người hiền trí lắng nghe.
1033.
1033.
1033.
‘‘Uyyānabhūmyā ca duvaddhato ṭhitā, rathā ca nāgā tūriyāni ca saro;
Tameva devinda pamodayanti, vīṇā yathā pokkharapattabāhubhi.
O lord of devas, standing on both sides in the garden grounds, the chariots, the elephants, and the sound of the musical instruments delight you alone, just as a lute, when played with its body and arm, delights a great assembly of people.
Hỡi Thiên chủ, những cỗ xe, voi và âm thanh của nhạc cụ, đứng ở hai bên khu vườn, chỉ làm vui lòng một mình ngài, giống như cây đàn tỳ bà làm vui lòng (mọi người) với phím gảy và bầu đàn.
1034.
1034.
1034.
‘‘Imāsu vīṇāsu bahūsu vaggūsu, manuññarūpāsu hadayeritaṃ pītiṃ †;
Pavajjamānāsu atīva accharā, bhamanti kaññā padumesu sikkhitā.
When these many lutes, sweet-sounding and of a pleasing nature, sound forth a heart-reaching sound that is the cause of delight, the trained maiden nymphs dance and whirl exceedingly in the celestial lotuses.
Khi những cây đàn tỳ bà này, nhiều về số lượng, âm thanh ngọt ngào và hình dáng đáng yêu, tấu lên những âm thanh làm rung động trái tim và mang lại hỷ lạc, các tiên nữ thiếu nữ tài hoa nhảy múa say sưa giữa những đóa hoa sen.
1035.
1035.
1035.
‘‘Yadā ca gītāni ca vāditāni ca, naccāni cimāni † samenti ekato;
Athettha naccanti athettha accharā, obhāsayantī ubhato varitthiyo.
And when these songs, this music, and this dancing come together in harmony, then some nymphs dance here in this chariot of yours. Then other noble women illuminate both sides with their radiance.
Và khi những bài ca, tiếng nhạc và vũ điệu này hòa quyện làm một, thì các tiên nữ Apsara liền nhảy múa, những người phụ nữ tuyệt vời ấy tỏa sáng rực rỡ cả hai bên.
1036.
1036.
1036.
‘‘So modasi turiyagaṇappabodhano, mahīyamāno vajirāvudhoriva;
Imāsu vīṇāsu bahūsu vaggūsu, manuññarūpāsu hadayeritaṃ pītiṃ.
When these many lutes, sweet-sounding and of a pleasing nature, sound forth a heart-reaching sound that is the cause of delight, you, awakened by the assembly of celestial instruments and honored like Indra, rejoice.
Ngươi hoan hỷ, được đánh thức bởi dàn nhạc trời, được tôn vinh như vị trời Vajirāvudha (Indra); khi những cây đàn tỳ bà này, nhiều vô số, âm thanh ngọt ngào, hình dáng mỹ miều, tấu lên âm thanh hỷ lạc rung động con tim.
1037.
1037.
1037.
‘‘Kiṃ tvaṃ pure kammamakāsi attanā, manussabhūto purimāya jātiyā;
Uposathaṃ kaṃ vā † tuvaṃ upāvasi, kaṃ † dhammacariyaṃ vatamābhirocayi.
What wholesome kamma did you yourself perform in the past, when you were a human being in a former life? What kind of Uposatha did you observe? In what practice of Dhamma or what vow did you delight?
Thuở trước, ngươi đã tự mình làm nghiệp gì, khi là người trong kiếp quá khứ? Ngươi đã thọ trì ngày Uposatha nào, hay ngươi đã hoan hỷ trong pháp hành nào, hoặc giới nguyện nào?
1038.
1038.
1038.
‘‘Nayīdamappassa katassa † kammuno, pubbe suciṇṇassa uposathassa vā;
Iddhānubhāvo vipulo ayaṃ tava, yaṃ devasaṅghaṃ abhirocase bhusaṃ.
This vast power of yours, by which you greatly outshine the assembly of devas, is surely not the result of a minor deed, nor of a well-practiced Uposatha in the past.
Oai lực thần thông này của ngươi thật rộng lớn, do đó ngươi chiếu sáng rực rỡ giữa hội chúng chư thiên. Đây không phải là quả của một nghiệp nhỏ đã làm, mà hẳn là của việc thọ trì Uposatha đã được thực hành tốt đẹp trong quá khứ.
1039.
1039.
1039.
‘‘Dānassa te idaṃ phalaṃ, atho sīlassa vā pana;
Atho añjalikammassa, taṃ me akkhāhi pucchito’’ti.
Is this the fruit of your giving? Or is it the fruit of your virtue? Or is it the fruit of making a reverential gesture? Being asked, please declare that to me.
Đây là quả của sự bố thí của ngươi, hay là của giới hạnh? Hay là của nghiệp chắp tay (kính lễ)? Được hỏi như vậy, xin hãy nói cho ta biết điều đó.
1040.
1040.
1040.
So devaputto attamano, moggallānena pucchito;
Pañhaṃ puṭṭho viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalanti.
That devaputta, with a delighted mind, being questioned by Moggallāna, explained, when asked the question, of which kamma this was the fruit.
Vị thiên tử ấy, tâm ý hoan hỷ, được ngài Moggallāna hỏi, đã trả lời câu hỏi được đặt ra, về nghiệp nào đã cho quả này.
1041.
1041.
1041.
‘‘Jitindriyaṃ buddhamanomanikkamaṃ, naruttamaṃ kassapamaggapuggalaṃ;
Avāpurantaṃ amatassa dvāraṃ, devātidevaṃ satapuññalakkhaṇaṃ.
I saw the Buddha Kassapa, who had conquered his sense faculties, possessed perfect effort, was supreme among men, the foremost person, the one who opens the door to the Deathless, the deva supreme over devas, and who possessed the marks arising from a hundred merits.
Con đã thấy đức Phật Kassapa, bậc đã chế ngự các căn, có tinh tấn viên mãn, bậc tối thượng giữa loài người, bậc tối thắng, người mở ra cánh cửa bất tử, bậc thiên-trung-thiên, người có tướng hảo của trăm phước.
1042.
1042.
1042.
‘‘Tamaddasaṃ kuñjaramoghatiṇṇaṃ, suvaṇṇasiṅgīnadabimbasādisaṃ;
Disvāna taṃ khippamahuṃ sucīmano, tameva disvāna subhāsitaddhajaṃ.
I saw him, the great elephant who had crossed over the floods, whose complexion was like an image of the finest gold. Having seen him, my mind quickly became pure; this happened only because of seeing him, who has the banner of well-spoken Dhamma.
Con đã thấy Ngài, như voi chúa, đã vượt qua bộc lưu, thân sắc như tượng vàng ròng sông Siṅgī. Vừa thấy Ngài, tâm con liền thanh tịnh, chỉ nhờ thấy Ngài, bậc có cờ pháp là lời thiện thuyết.
1043.
1043.
1043.
‘‘Tamannapānaṃ athavāpi cīvaraṃ, suciṃ paṇītaṃ rasasā upetaṃ;
Pupphābhikkiṇamhi sake nivesane, patiṭṭhapesiṃ sa asaṅgamānaso.
With an unattached mind, I offered to him, seated in my own house which was strewn with flowers, pure and excellent food and drink endowed with flavor, and also robes.
Với tâm không dính mắc, con đã dâng cúng vật thực, đồ uống, hoặc cả y phục, thanh tịnh, hảo hạng, đầy đủ hương vị, đến đức Thế Tôn ấy, khi Ngài đang ngự tại nhà riêng của con, nơi được trang hoàng đầy hoa.
1044.
1044.
1044.
‘‘Tamannapānena ca cīvarena ca, khajjena bhojjena ca sāyanena ca;
Santappayitvā dvipadānamuttamaṃ, so saggaso devapure ramāmahaṃ.
Having well satisfied that supreme among two-footed beings with food and drink, with robes, with hard food, soft food, and savories, I now delight in the city of the devas, in heavenly realm after heavenly realm.
Sau khi làm cho bậc tối thượng giữa các loài hai chân được mãn nguyện với vật thực, đồ uống, y phục, đồ ăn cứng, đồ ăn mềm, và đồ nếm, con nay hoan hỷ trong cõi trời, tại thiên đô.
1045.
1045.
1045.
‘‘Etenupāyena imaṃ niraggaḷaṃ, yaññaṃ yajitvā tividhaṃ visuddhaṃ.
By this means, having made this unbarred, threefold, and pure sacrificial offering,
Do phương tiện ấy, sau khi thực hiện sự cúng dường này, không bị ngăn che, thanh tịnh theo ba phương diện,
Pahāyahaṃ mānusakaṃ samussayaṃ, indūpamo † devapure ramāmahaṃ.
Having abandoned the human body, like unto Indra, I delight in the city of the devas.
Từ bỏ thân người, tôi vui hưởng trong thành phố của chư thiên, giống như Thiên chủ (Indra).
1046.
1046.
1046.
‘‘Āyuñca vaṇṇañca sukhaṃ balañca, paṇītarūpaṃ abhikaṅkhatā muni;
Annañca pānañca bahuṃ susaṅkhataṃ, patiṭṭhapetabbamasaṅgamānase.
O sage, one who desires long life, beauty, happiness, strength, and excellent form should, with an unattached mind, offer much well-prepared food and drink.
Thưa bậc Mâu-ni, người mong cầu tuổi thọ, sắc đẹp, an lạc, sức mạnh, và hình tướng hảo hạng, nên với tâm không dính mắc, dâng cúng nhiều vật thực và đồ uống được chuẩn bị chu đáo.
1047.
1047.
1047.
†‘‘Nayimasmiṃ loke parasmiṃ † vā pana, buddhena seṭṭho va samo va vijjati;
Āhuneyyānaṃ † paramāhutiṃ gato, puññatthikānaṃ vipulapphalesina’’nti.
In this world or in another, there exists no one superior to or equal to the Buddha. For beings who desire merit and wish for vast fruit, the Buddha has become the supreme recipient among those worthy of offerings.
Trong thế gian này hay ở thế gian khác, không có ai cao hơn hay bằng được đức Phật. Đối với những người mong cầu phước báu, tìm kiếm quả báo rộng lớn, Ngài là ruộng phước tối thượng cho những vật cúng dường.
Mahārathavimānaṃ cuddasamaṃ.
The fourteenth story, the Great Chariot Mansion, is concluded.
Thiên cung Đại Xa, phẩm thứ mười bốn.
Mahārathavaggo pañcamo niṭṭhito.
The fifth Great Chariot Chapter is completed.
Dứt Phẩm Cỗ Xe Lớn là phẩm thứ năm.
Tassuddānaṃ –
The summary of that chapter:
Tóm lược phẩm ấy:
Maṇḍūko revatī chatto, kakkaṭo dvārapālako;
Dve karaṇīyā dve sūci, tayo nāgā ca dve rathā;
Purisānaṃ paṭhamo vaggo pavuccatīti.
Maṇḍūka, Revatī, Chatta, Kakkaṭa, the Dvārapālaka; two Karaṇīya stories, two Sūci stories, three Nāga stories, and two Ratha stories. Thus is recited the first chapter concerning men.
Maṇḍūka, Revatī, Chatta, Kakkaṭa, Dvārapālaka; hai (phẩm) Karaṇīya, hai Sūci, ba Nāga, và hai Ratha. Phẩm đầu tiên của phần nam giới được tuyên đọc như vậy.
Bhāṇavāraṃ tatiyaṃ niṭṭhitaṃ.
The third recitation section is concluded.
Tụng phẩm thứ ba đã kết thúc.