Bản dịch
VV 61 — Thiên Cung Long Tượng thứ nhì
11. Dutiyanāgavimānavatthu
BJT 969“Sau khi cỡi lên con long tượng to lớn, toàn thân màu trắng, đứng đầu các con voi, dẫn đầu đám phụ nữ đi dạo từ rừng này sang rừng khác, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 970Do điều gì ngươi có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho ngươi ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho ngươi?
BJT 971Hỡi Thiên nhân có đại oai lực, ta hỏi ngươi: ‘Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 972Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được chính ngài Vaṅgīsa hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 973“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, tôi đã là người nam cư sĩ của đấng Hữu Nhãn. Tôi đã kiêng chừa việc giết hại mạng sống, tôi đã xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời.
BJT 974Không có việc uống chất say, và tôi đã không nói lời dối trá, tôi đã được vui thích (chỉ) với người vợ của mình, có tâm tịnh tín, tôi đã trân trọng dâng cúng vật thí dồi dào về cơm ăn và nước uống.
BJT 975Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 976Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Long Tượng thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
11. Dutiyanāgavimānavatthu
11. The Story of the Second Elephant Mansion
11. Câu chuyện về Thiên cung Con Voi thứ hai
968.
968.
968.
‘‘Mahantaṃ nāgaṃ abhiruyha, sabbasetaṃ gajuttamaṃ;
Vanā vanaṃ anupariyāsi, nārīgaṇapurakkhato;
Obhāsento disā sabbā, osadhī viya tārakā.
“Mounting a great, all-white elephant, the best of elephants, you wander from forest to forest, attended by a retinue of nymphs, illuminating all directions like the morning star.
Ngài cưỡi trên một con voi to lớn, một con voi chúa toàn thân màu trắng. Được đoàn tiên nữ vây quanh, ngài đi từ rừng này sang rừng khác, tỏa sáng khắp mọi phương trời, giống như sao mai.
969.
969.
969.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo…pe…vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“By what is your complexion like this… and your complexion illuminates all directions?”
Do nhân gì ngài có được dung sắc như vậy ... và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương trời?
971.
971.
971.
So devaputto attamano, vaṅgīseneva pucchito;
Pañhaṃ puṭṭho viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devaputta, with a delighted mind, being questioned by the Venerable Vaṅgīsa, being asked the question, explained of which kamma this is the fruit.
Vị thiên tử ấy, với tâm hoan hỷ, được ngài Vaṅgīsa hỏi, đã giải thích câu hỏi được đặt ra, (rằng) đây là quả của nghiệp ấy.
972.
972.
972.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūto, upāsako cakkhumato ahosiṃ;
Pāṇātipātā virato ahosiṃ, loke adinnaṃ parivajjayissaṃ.
“When I was a human being among humans, I was a lay follower of the One with Vision. I was one who abstained from taking life; in the world, I avoided taking what was not given.
Khi còn là người giữa nhân loại, con là một người cận sự nam của bậc có Mắt. Con đã từ bỏ sát sanh, và tránh xa việc lấy của không cho ở trên đời.
973.
973.
973.
‘‘Amajjapo no ca musā abhāṇiṃ †, sakena dārena ca tuṭṭho ahosiṃ;
Annañca pānañca pasannacitto, sakkacca dānaṃ vipulaṃ adāsiṃ.
“I was not a drinker of intoxicants, nor did I speak falsehood; and I was content with my own wife. With a confident mind, I respectfully gave an abundant gift of food and drink.
Con không uống rượu, và không nói dối. Con đã hài lòng với vợ của mình. Với tâm hoan hỷ, con đã cúng dường đồ ăn, thức uống, và nhiều vật thí khác một cách cung kính.
974.
974.
974.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe…vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“Through that kamma, my complexion is such… and my complexion illuminates all directions.”
Do nhân đó, con có được dung sắc như vậy ... và dung sắc của con tỏa sáng khắp mọi phương trời.
Dutiyanāgavimānaṃ ekādasamaṃ.
The Second Elephant Mansion is the eleventh.
Thiên cung Con Voi thứ hai, phẩm thứ mười một.