Bản dịch
VV 52 — Thiên Cung của Revatī
2. Revatīvimānavatthu
BJT 862“Đối với người có cuộc sống xa nhà lâu dài đã trở về an toàn từ phương xa, thân quyến bạn bè và người quen mừng vui đón người đã trở về.
BJT 863Tương tự y như thế, (đối với) người đã làm việc phước thiện từ thế gian này sanh đến thế giới khác, các phước báu tiếp đón (người ấy) tựa như các quyến thuộc tiếp đón người thân yêu đã trở về.”
BJT 864“Này Revatā, này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cô hãy đứng lên. Này cô nàng không có nết hạnh bố thí, cánh cửa (địa ngục) là không bị đóng lại. Chúng tôi sẽ đưa cô đến nơi mà những kẻ bị đọa vào khổ cảnh than khóc, (và) những kẻ địa ngục bị gánh chịu khổ đau.”
BJT 865Sau khi chỉ nói như thế, các sứ giả cõi Dạ-ma, hai Dạ-xoa ấy, có cặp mắt đỏ ngầu, cao to, mỗi người một cánh tay, đã nắm lấy Revatā rồi đi đến nơi có sự hiện diện của hội chúng chư Thiên.
BJT 866“Thiên cung xinh đẹp, được che đậy bằng mạng lưới vàng, có màu sắc của mặt trời, đáng yêu, rực rỡ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người nào?
BJT 867Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được sáng chói cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nhìn thấy có màu sắc như là mặt trời. Người nào đã đạt đến cõi Trời và vui sướng ở Thiên cung?”
BJT 868“Ở Bārāṇasī, đã có người cận sự nam tên là Nandiya, không bỏn xẻn, là người thí chủ, là người nhân từ. Thiên cung này, có người đông đảo, đang rực sáng tựa như hào quang của mặt trời, là của người ấy.
BJT 869Các nhóm phụ nữ, được thoa tinh chất của trầm hương, làm cho cung điện được rực sáng cả hai nơi (bên trong và bên ngoài). Thiên cung được nhìn thấy có màu sắc như là mặt trời. Người ấy đã đạt đến cõi Trời và vui sướng ở Thiên cung.”
BJT 870“Tôi là người vợ của Nandiya, là nữ gia chủ, có uy quyền đối với tất cả gia đình. Giờ đây, tôi sẽ thích thú ở Thiên cung của chồng, tôi không mong mỏi về việc nhìn thấy địa ngục.”
BJT 871“Này cô nàng có bản tính vô cùng xấu xa, cái địa ngục ấy là dành cho cô. Việc phước thiện đã không được cô làm khi ở thế giới có cuộc sống. Bởi vì người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đã đi đến cõi Trời.”
BJT 872“Phân và nước tiểu nhơ bẩn được nhìn thấy là cái gì vậy? Cái mùi hôi thối này là cái gì? Cái phân bốc mùi này là cái gì?”
BJT 873“Này Revatā, cái ấy gọi là địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, là nơi cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.”
BJT 874“Vậy việc làm ác nào đã được làm do thân, do khẩu, do ý? Vì việc gì mà bị gánh chịu địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam?”
BJT 875“Cô lừa gạt các Sa-môn, các Bà-la-môn, và luôn cả những người khốn khổ khác nữa bằng lời nói dối trá; việc xấu xa ấy đã do cô gây ra.
BJT 876Này Revatā, do việc ấy mà bị gánh chịu địa ngục Saṁsavaka có độ sâu một trăm lần chiều cao của người nam, ở nơi ấy cô (sẽ) bị nung nấu hàng ngàn năm.
BJT 877Chúng chặt các bàn tay, rồi luôn cả các bàn chân, chúng xẻo các lỗ tai, rồi luôn cả lỗ mũi, rồi còn có các bầy quạ bu lại, tụ tập lại, ngấu nghiến kẻ đang quằn quại.”
BJT 878“Quả là tốt đẹp, xin các vị hãy đưa tôi trở về, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện, là việc mà sau khi thực hành, người ta được hạnh phúc và không bị ân hận về sau này.”
BJT 879“Trước đây cô đã xao lãng rồi bây giờ than van. Cô sẽ gánh chịu quả thành tựu của các nghiệp đã làm của mình.”
BJT 880“Vị nào, sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến thế giới loài người, được tôi hỏi rồi nói như vầy: ‘Nàng nên dâng cúng vật thí, y phục, chỗ nằm, và cơm nước ở những vị đã buông các gậy gộc xuống, bởi vì người nữ bỏn xẻn, giận dữ, có bản tính xấu xa, không đạt được sự cộng trú với những người đã đi đến cõi Trời?’
BJT 881Chắc chắn rằng tôi đây, khi đã đi khỏi nơi này, thì sau khi đạt được việc sanh lại làm người, (tôi sẽ) là người nhân từ, đầy đủ giới hạnh, tôi sẽ thực hiện nhiều điều tốt đẹp với việc bố thí, với việc hành thiện, với việc thu thúc, với việc rèn luyện.
BJT 882Với tâm ý tịnh tín, tôi sẽ cho dựng lên các tu viện, các cây cầu ở chỗ khó đi, nước uống dọc đường, và giếng nước.
BJT 883Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 884Tôi sẽ hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới, và sẽ không xao lãng trong việc bố thí; điều này đã được đích thân tôi nhìn thấy.”
BJT 885Trong khi cô ấy đang rên rỉ như thế, đang quằn quại thế này thế khác, chúng đã ném cô ấy vào địa ngục ghê rợn, chân phía trên, đầu phía dưới.
BJT 886“Trước đây, tôi đã là người bỏn xẻn, là người mắng nhiếc các vị Sa-môn và Bà-la-môn, và sau khi dối gạt người chồng bằng việc không thật, tôi bị nung nấu ở địa ngục có hình thức ghê rợn.”
Thiên Cung của Revatī.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Revatīvimānavatthu
2. The Story of the Revatī Celestial Mansion
2. Câu chuyện về Thiên cung của Revatī
861.
861.
861.
† ‘‘Cirappavāsiṃ purisaṃ, dūrato sotthimāgataṃ;
Ñātimittā suhajjā ca, abhinandanti āgataṃ;
“Just as when a man who has been away for a long time returns safely from afar, his relatives, friends, and well-wishers rejoice at his arrival;
Giống như một người đàn ông đi xa lâu ngày, trở về an toàn từ nơi xa; bà con, bạn bè, và những người thân thiết, vui mừng khi người ấy trở về;
862.
862.
862.
† ‘‘Tatheva katapuññampi, asmā lokā paraṃ gataṃ;
Puññāni paṭigaṇhanti, piyaṃ ñātīva āgataṃ.
“In the same way, when one who has done meritorious deeds passes from this world to the next, their meritorious deeds receive them, like relatives welcoming a loved one who has returned.”
Cũng vậy, người đã tạo phước, đi từ đời này sang đời khác; các công đức của người ấy đón nhận người ấy, như bà con đón người thân trở về.
863.
863.
863.
†‘‘Uṭṭhehi revate supāpadhamme, apārutadvāre † adānasīle;
Nessāma taṃ yattha thunanti duggatā, samappitā nerayikā dukkhenā’’ti.
“Arise, O Revatī, you of very evil conduct, with the doors to a woeful state unclosed, you of ungenerous character. We shall lead you to where the wretched, the denizens of hell afflicted with suffering, lament.”
Hãy trỗi dậy, hỡi Revatī, kẻ có ác hạnh, không bố thí, cửa (địa ngục) đang mở; chúng ta sẽ đưa ngươi đến nơi những kẻ khốn khổ, những chúng sanh địa ngục, đang rên la, bị áp bức bởi đau khổ.
864.
864.
864.
Icceva † vatvāna yamassa dūtā, te dve yakkhā lohitakkhā brahantā;
Paccekabāhāsu gahetvā revataṃ, pakkāmayuṃ devagaṇassa santike.
Having spoken thus, the messengers of Yama, those two yakkhas with red eyes and large bodies, seizing Revatī by each arm, led her to the presence of the assembly of devas.
Sau khi nói như vậy, các sứ giả của thần Yama, hai dạ xoa mắt đỏ, to lớn ấy; mỗi người nắm một cánh tay của Revatī, rồi đi đến trước hội chúng chư thiên.
865.
865.
865.
‘‘Ādiccavaṇṇaṃ ruciraṃ pabhassaraṃ, byamhaṃ subhaṃ kañcanajālachannaṃ;
Kassetamākiṇṇajanaṃ vimānaṃ, sūriyassa raṃsīriva jotamānaṃ.
“With a color like the sun, delightful, radiant, a beautiful celestial mansion covered with a golden net; whose is this crowded mansion, shining like the rays of the sun?
Thiên cung này, màu sắc như mặt trời, lộng lẫy, rực rỡ, cao rộng, xinh đẹp, được bao phủ bởi lưới vàng; thiên cung đông đúc này, tỏa sáng như tia nắng mặt trời, là của ai?
866.
866.
866.
‘‘Nārīgaṇā candanasāralittā †, ubhato vimānaṃ upasobhayanti;
Taṃ dissati sūriyasamānavaṇṇaṃ, ko modati saggapatto vimāne’’ti.
“Groups of celestial nymphs, anointed with the essence of sandalwood, adorn the mansion on both sides. It appears with a color like the sun. Who is it that, having reached the celestial realm, rejoices in this mansion?”
Các nhóm tiên nữ, thoa bột đàn hương, làm đẹp cho thiên cung cả trong lẫn ngoài; nó trông như màu sắc của mặt trời, ai là người đã đến thiên giới, đang hoan hỷ trong thiên cung này?
867.
867.
867.
‘‘Bārāṇasiyaṃ nandiyo nāmāsi, upāsako amaccharī dānapati vadaññū;
Tassetamākiṇṇajanaṃ vimānaṃ, sūriyassa raṃsīriva jotamānaṃ.
“In Bārāṇasī there was a lay devotee named Nandiya, who was free from stinginess, a master of giving, and generous. This crowded mansion, shining like the rays of the sun, is his.”
Tại Bārāṇasī, có một nam cư sĩ tên là Nandiya, không keo kiệt, là một thí chủ, một người rộng lượng; thiên cung đông đúc này, tỏa sáng như tia nắng mặt trời, là của ông ấy.
868.
868.
868.
‘‘Nārīgaṇā candanasāralittā, ubhato vimānaṃ upasobhayanti;
Taṃ dissati sūriyasamānavaṇṇaṃ, so modati saggapatto vimāne’’ti.
“Groups of celestial nymphs, anointed with the essence of sandalwood, adorn the mansion on both sides. It appears with a color like the sun. He it is that, having reached the celestial realm, rejoices in this mansion.”
“Các đoàn thiên nữ thoa xức tinh chất chiên-đàn, làm cho lâu đài lộng lẫy cả hai bên (trong và ngoài); lâu đài ấy hiện ra với màu sắc rực rỡ như mặt trời, vị ấy đã sanh về cõi trời, đang hoan hỷ trong lâu đài.”
869.
869.
869.
‘‘Nandiyassāhaṃ bhariyā, agārinī sabbakulassa issarā;
Bhattu vimāne ramissāmi dānahaṃ, na patthaye nirayaṃ dassanāyā’’ti.
“I am Nandiya's wife, the mistress of the house, sovereign over the entire household. Now I shall delight in my husband's mansion; I do not wish to see hell.”
“Tôi là vợ của Nandiya, là nữ gia chủ làm chủ toàn bộ gia sản; bây giờ tôi sẽ hoan hỷ trong lâu đài của chồng, tôi không mong muốn nhìn thấy địa ngục.”
870.
870.
870.
‘‘Eso te nirayo supāpadhamme, puññaṃ tayā akataṃ jīvaloke;
Na hi maccharī rosako pāpadhammo, saggūpagānaṃ labhati sahabyata’’nti.
“This is your hell, O you of very evil conduct. You have done no merit in the world of the living. Indeed, one who is stingy, harsh, and of evil nature does not obtain the companionship of those who go to the celestial realm.”
“Hỡi kẻ có ác pháp tột cùng, địa ngục này là của ngươi, ngươi đã không làm phước trong thế giới chúng sanh; quả thật, người bỏn xẻn, hay sân hận, có ác pháp, không thể đạt được sự đồng hành với những vị đã sanh về cõi trời.”
871.
871.
871.
‘‘Kiṃ nu gūthañca muttañca, asucī paṭidissati;
Duggandhaṃ kimidaṃ mīḷhaṃ, kimetaṃ upavāyatī’’ti.
“What is this excrement and urine, this impure thing that is seen? Why is this place foul-smelling, full of filth? Why does it reek so?”
“Tại sao lại thấy phân và nước tiểu, những thứ bất tịnh? Tại sao nơi này có mùi hôi thối, đầy phân? Tại sao nó lại bốc mùi hôi thối như vậy?”
872.
872.
872.
‘‘Esa saṃsavako nāma, gambhīro sataporiso;
Yattha vassasahassāni, tuvaṃ paccasi revate’’ti.
“This, O Revatī, is named the Saṃsavaka hell; it is deep, a hundred persons deep. Therein for thousands of years, you will be cooked.”
“Hỡi Revatī, đây là địa ngục tên Saṃsavaka, sâu một trăm tầm người; nơi mà ngươi sẽ bị nấu trong hàng ngàn năm.”
873.
873.
873.
‘‘Kiṃ nu kāyena vācāya, manasā dukkaṭaṃ kataṃ;
Kena saṃsavako laddho, gambhīro sataporiso’’ti.
“What wrong was done by me through body, speech, or mind? By what kamma was the Saṃsavaka hell obtained, deep, a hundred persons deep?”
“Ác hạnh gì đã được làm bởi thân, lời, và ý? Do (nghiệp) nào mà địa ngục Saṃsavaka, sâu một trăm tầm người, đã bị nhận lấy?”
874.
874.
874.
‘‘Samaṇe brāhmaṇe cāpi, aññe vāpi vanibbake †;
Musāvādena vañcesi, taṃ pāpaṃ pakataṃ tayā.
“You deceived ascetics and brahmins, and other mendicants as well, with false speech. That evil kamma was done by you.”
“Ngươi đã lừa dối các Sa-môn và Bà-la-môn, hoặc những người hành khất khác bằng lời nói dối, tội lỗi đó đã được ngươi làm.”
875.
875.
875.
‘‘Tena saṃsavako laddho, gambhīro sataporiso;
Tattha vassasahassāni, tuvaṃ paccasi revate.
“For that reason, the Saṃsavaka hell was obtained by you, deep, a hundred persons deep. There, for thousands of years, you will be cooked, O Revatī.”
“Do (nghiệp) đó, địa ngục Saṃsavaka, sâu một trăm tầm người, đã bị nhận lấy; hỡi Revatī, ở đó ngươi sẽ bị nấu trong hàng ngàn năm.”
876.
876.
876.
‘‘Hatthepi chindanti athopi pāde, kaṇṇepi chindanti athopi nāsaṃ;
Athopi kākoḷagaṇā samecca, saṅgamma khādanti viphandamāna’’nti.
“They will cut off your hands and also your feet; they will cut off your ears and also your nose. Furthermore, flocks of crows and vultures, gathering and coming together, will devour you as you tremble.”
“Chúng chặt cả tay, rồi cả chân, chúng chặt cả tai, rồi cả mũi; hơn nữa, đàn quạ và diều hâu tụ tập lại, cùng nhau ăn thịt ngươi đang run rẩy.”
877.
877.
877.
‘‘Sādhu kho maṃ paṭinetha, kāhāmi kusalaṃ bahuṃ;
Dānena samacariyāya, saṃyamena damena ca;
Yaṃ katvā sukhitā honti, na ca pacchānutappare’’ti.
“I beg you, please lead me back. I will perform much wholesome kamma through giving, even conduct, restraint, and self-control—deeds which, having been done, make beings happy and cause no later regret.”
“Lành thay, xin hãy đưa tôi trở lại, tôi sẽ làm nhiều điều thiện; bằng bố thí, bằng hành vi chánh trực, bằng sự tự chế, và bằng sự điều phục; làm điều đó rồi chúng sanh được an lạc, và không hối hận về sau.”
878.
878.
878.
‘‘Pure tuvaṃ pamajjitvā, idāni paridevasi;
Sayaṃ katānaṃ kammānaṃ, vipākaṃ anubhossasī’’ti.
“Formerly, you were heedless, and now you lament. You yourself will experience the result of the kamma done by yourself.”
“Trước kia ngươi đã phóng dật, bây giờ ngươi than khóc; ngươi sẽ phải chịu quả báo của các nghiệp do chính mình đã làm.”
879.
879.
879.
‘‘Ko devalokato manussalokaṃ, gantvāna puṭṭho me evaṃ vadeyya;
‘Nikkhittadaṇḍesu dadātha dānaṃ, acchādanaṃ seyya † mathannapānaṃ;
Nahi maccharī rosako pāpadhammo, saggūpagānaṃ labhati sahabyataṃ’.
“Who, having gone from the deva world to the human world, when asked by me, would speak to me thus: ‘Give gifts to those who have laid down the rod. Give clothing, bedding, and also food and drink. For one who is stingy, harsh, and of evil nature does not obtain the companionship of those who go to the celestial realm.’”
“Vị trời nào từ cõi trời đến cõi người, khi được tôi hỏi, sẽ nói như thế này: ‘Hãy bố thí đến những vị đã từ bỏ hình phạt, (hãy cúng dường) y phục, chỗ ở, và vật thực, thức uống; quả thật, người bỏn xẻn, hay sân hận, có ác pháp, không thể đạt được sự đồng hành với những vị đã sanh về cõi trời’.”
880.
880.
880.
‘‘Sāhaṃ nūna ito gantvā, yoniṃ laddhāna mānusiṃ;
Vadaññū sīlasampannā, kāhāmi kusalaṃ bahuṃ;
Dānena samacariyāya, saṃyamena damena ca.
“Surely, having departed from here and obtained a human birth, I will be generous and endowed with virtue, and I will perform much wholesome kamma through giving, even conduct, restraint, and self-control.”
“Chắc chắn sau khi đi khỏi đây, được sanh làm người, tôi sẽ là người rộng rãi, đầy đủ giới hạnh, sẽ làm nhiều điều thiện; bằng bố thí, bằng hành vi chánh trực, bằng sự tự chế, và bằng sự điều phục.”
881.
881.
881.
‘‘Ārāmāni ca ropissaṃ, dugge saṅkamanāni ca;
Papañca udapānañca, vippasannena cetasā.
“With a very clear mind, I will plant parks and groves, and in difficult places, I will build bridges. I will make water-stands, and wells and ponds.”
“Với tâm trong sạch, tôi sẽ trồng các khu vườn, và làm các cây cầu ở những nơi khó đi; (tôi sẽ làm) giếng nước, hồ nước và các lu nước.”
882.
882.
882.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāgataṃ.
“On the fourteenth and fifteenth days, and on the eighth day of the lunar fortnight, and during the special observance period, I will observe the Uposatha, complete with its eight factors.”
“(Tôi sẽ thọ trì) vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mùng tám của mỗi bán nguyệt, và những ngày đặc biệt của bán nguyệt, (việc thọ trì) đầy đủ tám chi phần.”
883.
883.
883.
‘‘Uposathaṃ upavasissaṃ, sadā sīlesu saṃvutā;
Na ca dāne pamajjissaṃ, sāmaṃ diṭṭhamidaṃ mayā’’ti;
“I will observe the Uposatha, always restrained in my virtues. I will not be heedless in giving. This I have seen for myself.”
“Tôi sẽ thọ trì ngày Bố-tát, luôn luôn được thu thúc trong các giới; và sẽ không phóng dật trong việc bố thí, điều này đã được chính tôi nhìn thấy.”
884.
884.
884.
Iccevaṃ vippalapantiṃ, phandamānaṃ tato tato;
Khipiṃsu niraye ghore, uddhapādaṃ avaṃsiraṃ.
Thus, as she was lamenting and trembling, they hurled her into the dreadful hell, feet upwards and head downwards.
Khi (Revatī) đang than khóc và run rẩy đây đó như vậy, chúng đã ném (nàng) vào địa ngục kinh hoàng, với chân hướng lên trên và đầu chúc xuống dưới.
885.
885.
885.
‘‘Ahaṃ pure maccharinī ahosiṃ, paribhāsikā samaṇabrāhmaṇānaṃ;
Vitathena ca sāmikaṃ vañcayitvā, paccāmahaṃ niraye ghorarūpe’’ti.
“Formerly, I was stingy and a reviler of ascetics and brahmins. Having deceived my husband with untruth, I am tormented in a dreadful hell.”
“Trước kia tôi đã là người bỏn xẻn, đã mắng nhiếc các Sa-môn và Bà-la-môn; và sau khi đã lừa dối chồng bằng điều không thật, tôi bị nấu trong địa ngục có hình dạng kinh hoàng.”
Revatīvimānaṃ dutiyaṃ.
The second is the story of the Revatī celestial mansion.
Chuyện Thiên Cung của Revatī, thứ hai.