Bản dịch
VV 53 — Thiên Cung của Thanh Niên Bà-la-môn Chatta
3. Chattamāṇavakavimānavatthu
BJT 887“Vị nào là đấng quý cao trong số các bậc thuyết giảng của loài người, là bậc Hiền Trí dòng Sakya, đức Thế Tôn, có phận sự đã làm xong, đã đi đến bờ kia, có được sức mạnh và sự tinh tấn; ngươi hãy đến gần đấng Thiện Thệ ấy với mục đích nương nhờ.
BJT 888Giáo Pháp này không nhiễm ái luyến, không dục vọng, không sầu muộn, không bị tạo tác, không đáng ghét, ngọt ngào, có sự hoàn thiện, khéo được phân tích; ngươi hãy đến gần Giáo Pháp này với mục đích nương nhờ.
BJT 889Và nơi nào người ta đã nói vật được bố thí là có quả báo lớn, (tức là) ở bốn đôi của hạng người trong sạch; tám hạng ấy là các cá nhân đã nhìn thấy Giáo Pháp; ngươi hãy đến gần Hội Chúng này với mục đích nương nhờ.”
BJT 890“Không giống như mặt trời chói sáng ở bầu không gian, mặt trăng và sao Phussa đều không chiếu sáng giống như người này, vị có ánh sáng vĩ đại, không thể đo lường; ngươi là ai mà đã từ cõi Ba Mươi (Ba) đi đến trái đất?
BJT 891Ánh sáng với sự vượt trội hai mươi do-tuần cắt đứt các ánh hào quang của mặt trời, và làm cho ban đêm cũng giống như ban ngày. Thiên cung là hoàn toàn trong sạch, không bụi bặm, xinh đẹp.
BJT 892Với nhiều sen trắng, sen hồng nhiều màu sắc, được trộn lẫn với các bông hoa, được tô điểm nhiều màu sắc, được bao phủ bởi mạng lưới vàng không bụi, sạch bụi, (Thiên cung ấy) chói sáng ở không trung cũng giống như mặt trời.
BJT 893Với các tấm vải màu đỏ và y phục màu vàng, với các chất bôi thơm như là agaru, piyaṅgu, và trầm hương, với các làn da mềm mại tựa như vàng, (Thiên cung ấy) được hoàn mãn tựa như bầu trời được hoàn mãn nhờ vào các vì sao.
BJT 894Ở đây, có nhiều người nam người nữ với nhiều sắc thái, ở đây là những người có thiện tâm, có các đồ trang sức được điểm trang với các bông hoa, được tự do theo làn gió, tỏa ra hương thơm, được trải rộng với (dây buộc bằng) vàng (ở bím tóc), có y phục bằng vàng.
BJT 895Quả thành tựu này là do sự an tịnh và rèn luyện nào? Do kết quả của việc làm nào mà ngươi đã được sanh ra ở nơi đây? Và như thế nào mà ngươi đã được ngự đến cung điện này? Nào, đã được hỏi, ngươi hãy nói về điều ấy theo từng phần một.”
BJT 896“Bởi vì, tại nơi đây, ở con đường lộ, sau khi gặp gỡ với người thanh niên, bậc Đạo Sư trong khi thương xót đã giáo huấn. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp thuộc về báu vật cao quý của Ngài, Chatta đã nói rằng: ‘Tôi sẽ thực hiện.’
BJT 897‘Ngươi hãy đi đến nương nhờ đấng Jina cao quý tối thượng, luôn cả Giáo Pháp nữa, và tương tự y như thế (với) Hội Chúng tỳ khưu.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói:—Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 898‘Và ngươi chớ thực hành việc giết hại sanh mạng theo nhiều cách, không trong sạch, bởi vì các bậc thiện trí đã không ngợi khen việc không kiềm chế đối với các sanh mạng.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói:—Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 899‘Và ngươi chớ nghĩ đến vật đã được gìn giữ thuộc về người khác, vật không nên được lấy đi, vật không được cho.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 900‘Và ngươi chớ đi đến những người vợ của kẻ khác, những người nữ đã được gìn giữ bởi người nam khác; việc này là không thánh thiện.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 901‘Và ngươi chớ nói việc không đúng sự thật, theo cách thức sai khác, bởi vì các bậc thiện trí đã không ngợi khen lời nói dối trá.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.’
BJT 902‘Và do vật nào mà sự nhận biết của con người lìa khỏi, ngươi hãy lánh xa tất cả chất say ấy.’ ‘Thưa Ngài, đầu tiên tôi đã nói: Không; sau đó tôi đã làm đúng theo lời nói của Ngài.
BJT 903Tôi đây, ở nơi này, sau khi làm theo năm điều học, sau khi thực hành theo Giáo Pháp của đức Như lai, đã đi con đường nối liền hai ngôi làng, ở giữa những kẻ cướp. Chúng đã giết hại tôi ở tại nơi ấy vì nguyên nhân của cải.
BJT 904Tôi nhớ lại điều tốt đẹp này chỉ có chừng ấy, tôi không biết về điều gì khác hơn thế nữa. Do nghiệp đã khéo được thực hành ấy, tôi đã được sanh lên ở các cảnh giới chư Thiên, có các dục theo sự ao ước.
BJT 905Xin Ngài hãy nhìn xem quả thành tựu của sự thu thúc trong giây lát trong phút chốc nhờ vào sự thực hành thuận theo Giáo Pháp. Trong lúc nhìn thấy tôi tựa như đang chói sáng nhờ vào danh tiếng; nhiều người, có nghiệp hạ liệt, ganh tỵ với tôi.
BJT 906Xin Ngài hãy nhìn xem, nhờ vào sự thuyết giảng chút ít, tôi đã đi đến cõi Trời và đã đạt đến an lạc. Còn những người nào thường xuyên lắng nghe Giáo Pháp, tôi nghĩ rằng những người ấy chạm đến Bất Tử, sự an toàn.
BJT 907Việc đã được làm, dầu chỉ chút ít, ở Giáo Pháp của đức Như Lai là có quả thành tựu vĩ đại, bao la. Xin Ngài hãy nhìn xem, với phước thiện đã làm, Chatta làm cho trái đất chói sáng, thậm chí giống như mặt trời.
BJT 908Việc tốt đẹp này là gì? Chúng ta nên thực hành điều gì? Nhiều người, sau khi gặp nhau bàn thảo như thế. Chúng ta đây đã đạt được bản thể nhân loại thêm lần nữa; đã được đạt đến, chúng ta hãy sống có giới hạnh.
BJT 909Và bậc Đạo Sư, với nhiều sự tiếp độ, bậc có lòng thương tưởng, đã đi đến với tôi vào lúc sáng sớm, khi tôi còn sống, tôi đây đã đi đến gặp bậc có tên là Sự Thật (nói rằng): ‘Xin Ngài hãy thương tưởng, hãy để chúng tôi nghe Giáo Pháp thêm lần nữa.’
BJT 910Và ở đây, những vị nào dứt bỏ sự luyến ái ở các dục, sau khi dứt bỏ sự tiềm ẩn về hữu ái, và si mê, các vị ấy không đi đến thai bào lần nữa, bởi vì các vị đã ngự đến cảnh giới Niết Bàn, có trạng thái mát mẻ.”
Thiên Cung của Thanh Niên Bà-la-môn Chatta.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Chattamāṇavakavimānavatthu
3. The Story of the Celestial Mansion of the Young Man Chatta
3. Câu chuyện về Thiên cung của thanh niên Chatta
886.
886.
886.
‘‘Ye vadataṃ pavaro manujesu, sakyamunī bhagavā katakicco;
Pāragato balavīriyasamaṅgī †, taṃ sugataṃ saraṇatthamupehi.
He who is the foremost of speakers among human beings, the Sakyan Sage, the Blessed One, who has accomplished his task, gone beyond, and is endowed with strength and vigor—to that Well-farer go for refuge.
“Hãy đến quy y vị Thiện Thệ ấy, vị nào là bậc tối thượng trong số những người thuyết giảng giữa loài người, là bậc ẩn sĩ của dòng Sakya, là Thế Tôn, đã làm xong việc cần làm, đã đến bờ kia, thành tựu sức mạnh và tinh tấn.”
887.
887.
887.
‘‘Rāgavirāgamanejamasokaṃ, dhammamasaṅkhatamappaṭikūlaṃ;
Madhuramimaṃ paguṇaṃ suvibhattaṃ, dhammamimaṃ saraṇatthamupehi.
Go for refuge to the Dhamma that is free from passion, unshaken, and sorrowless; the unconditioned and unrepulsive; this sweet, proficient, and well-analyzed Dhamma.
“Hãy đến quy y Pháp này, là pháp ly tham, vô dao động, vô sầu, là pháp vô vi, không đáng ghê tởm; Pháp này ngọt ngào, hoàn hảo, được khéo phân định.”
888.
888.
888.
‘‘Yattha ca dinna mahapphalamāhu, catūsu sucīsu purisayugesu;
Aṭṭha ca puggaladhammadasā te, saṅghamimaṃ saraṇatthamupehi.
And where it is said that a gift bestowed bears great fruit—in the four pure pairs of persons, those eight individuals who have seen the Dhamma—to this Sangha go for refuge.
“Hãy đến quy y Tăng đoàn này, nơi mà vật được cúng dường được nói là có quả lớn, trong bốn đôi bậc Thánh thanh tịnh; tám bậc Thánh nhân ấy là những vị đã thấy Pháp.”
889.
889.
889.
‘‘Na tathā tapati nabhe sūriyo, cando ca na bhāsati na phusso;
Yathā atulamidaṃ mahappabhāsaṃ, ko nu tvaṃ tidivā mahiṃ upāgā.
The sun does not blaze so in the sky, nor does the moon gleam, nor does the star Phussa shine, as does this incomparable, greatly radiant mansion. Who then are you, who have come from the celestial realm to this earth?
“Mặt trời không chiếu sáng trên bầu trời, mặt trăng cũng không tỏa sáng, sao Phussa cũng không, như là (lâu đài) vô song có ánh sáng vĩ đại này. Ngươi là ai, đã từ cõi trời đến mặt đất này?”
890.
890.
890.
‘‘Chindati raṃsī pabhaṅkarassa, sādhikavīsatiyojanāni ābhā;
Rattimapi yathā divaṃ karoti, parisuddhaṃ vimalaṃ subhaṃ vimānaṃ.
Its radiance cuts through the rays of the sun, shining for more than twenty yojanas; it makes even the night like the day—this perfectly pure, stainless, and beautiful celestial mansion.
“Lâu đài hoàn toàn trong sạch, không tỳ vết, tuyệt đẹp này cắt đứt các tia sáng của mặt trời. Ánh sáng của nó lan tỏa hai mươi lăm do-tuần, làm cho ngay cả ban đêm cũng giống như ban ngày.”
891.
891.
891.
‘‘Bahupadumavicitrapuṇḍarīkaṃ, vokiṇṇaṃ kusumehi nekacittaṃ;
Arajavirajahemajālachannaṃ, ākāse tapati yathāpi sūriyo.
Abounding in many red lotuses and various white lotuses, strewn with diverse flowers, dustless and covered with a stainless golden net, it shines in the sky just like the sun.
“Có nhiều hoa sen hồng và hoa sen trắng đa dạng, rải rác với các loài hoa nhiều vẻ, không bụi bẩn, không tỳ vết, được bao phủ bởi mạng lưới vàng, tỏa sáng trên bầu trời giống như mặt trời.”
892.
892.
892.
‘‘Rattambarapītavasasāhi, agarupiyaṅgucandanussadāhi;
Kañcanatanusannibhattacāhi, paripūraṃ gaganaṃva tārakāhi.
It is filled with celestial nymphs—clad in red and yellow garments, fragrant with aloe, priyangu, and sandalwood, with skin like the color of fine gold—just as the sky is filled with stars.
“(Lâu đài) đầy ắp (các thiên nữ) mặc y phục đỏ và vàng, thân tỏa hương trầm, priyangu, và chiên-đàn, có làn da mịn màng như vàng, giống như bầu trời đầy ắp các vì sao.”
893.
893.
893.
‘‘Naranāriyo † bahuketthanekavaṇṇā, kusumavibhūsitābharaṇettha sumanā;
Anilapamuñcitā pavanti † surabhiṃ, tapaniyavitatā suvaṇṇachannā †.
Here there are many celestial men and women of diverse hues, joyful, adorned with floral ornaments, their hair decorated with refined gold, their bodies covered with gold. Here too, fragrant scents, released by the wind, waft about.
“Ở đây có nhiều thiên nam và thiên nữ với nhiều màu sắc, trang sức được tô điểm bằng hoa trời, với tâm hoan hỷ; được trang hoàng bằng vàng, thân được phủ vàng. Hương thơm được gió mang đi tỏa ra.”
894.
894.
894.
‘‘Kissa saṃyamassa † ayaṃ vipāko, kenāsi kammaphalenidhūpapanno;
Yathā ca te adhigatamidaṃ vimānaṃ, tadanupadaṃ avacāsi iṅgha puṭṭho’’ti.
Of what restraint is this the result? By the fruit of what kamma have you been reborn here? And how was this mansion obtained by you? Come now, being asked, please tell me this in detail.
“Quả báo này là của sự tự chế nào? Do quả của nghiệp nào mà ngươi đã sanh ở đây? Và bằng cách nào lâu đài này đã được ngươi đạt được? Này, khi được hỏi, hãy nói theo đúng như vậy.”
895.
895.
895.
‘‘Sayamidha † pathe samecca māṇavena, satthānusāsi anukampamāno;
Tava ratanavarassa dhammaṃ sutvā, karissāmīti ca bravittha chatto.
Venerable Sir, the Teacher, meeting with the young man on this path, instructed him out of compassion. And Chatta, having heard the Dhamma of you, the supreme jewel, said, ‘I will practice it.’
“Bậc Đạo Sư, với lòng bi mẫn, đã giáo huấn (cậu) sau khi chính Ngài gặp thanh niên (Chatta) trên con đường này; Chatta, sau khi nghe Pháp của Ngài, bậc quý báu tối thượng, đã nói rằng: ‘Con sẽ thực hành’.”
896.
896.
896.
‘‘Jinavarapavaraṃ † upehi † saraṇaṃ, dhammañcāpi tatheva bhikkhusaṅghaṃ;
Noti paṭhamaṃ avocahaṃ † bhante, pacchā te vacanaṃ tathevakāsiṃ.
‘Go for refuge to the supreme, excellent Conqueror, and also to the Dhamma, and likewise to the Sangha of monks.’ Venerable Sir, at first I said, ‘I do not know,’ but afterwards, I acted just according to your word.
“Hãy đến nương tựa nơi bậc Chiến Thắng, bậc Tối Thượng, bậc Cao Cả, và cũng như thế, nơi Giáo Pháp và Tăng đoàn chư Tỳ khưu. Bạch ngài, lúc đầu con đã thưa rằng: ‘Con không biết,’ sau đó con đã thực hành lời dạy của ngài đúng như vậy.”
897.
897.
897.
‘‘Mā ca pāṇavadhaṃ vividhaṃ carassu asuciṃ,
Na hi pāṇesu asaññataṃ avaṇṇayiṃsu sappaññā;
Noti paṭhamaṃ avocahaṃ bhante,
Pacchā te vacanaṃ tathevakāsiṃ.
‘Do not engage in various kinds of impure killing of living beings, for the wise do not praise being unrestrained towards living beings.’ Venerable Sir, at first I said, ‘I do not know,’ but afterwards, I acted just according to your word.
“Chớ có thực hành việc sát sanh, ô uế, dưới nhiều hình thức khác nhau. Vì rằng bậc hiền trí không tán thán sự không chế ngự đối với các loài chúng sanh. Bạch ngài, lúc đầu con đã thưa rằng: ‘Con không biết,’ sau đó con đã thực hành lời dạy của ngài đúng như vậy.”
898.
898.
898.
‘‘Mā ca parajanassa rakkhitampi, ādātabbamamaññitho † adinnaṃ;
Noti paṭhamaṃ avocahaṃ bhante, pacchā vacanaṃ tathevakāsiṃ.
‘Do not consider taking what is not given, belonging to another person, even if it is guarded.’ Venerable Sir, at first I said, ‘I do not know,’ but afterwards, I acted just according to your word.
“Chớ có nghĩ rằng vật không cho, được người khác gìn giữ, là vật có thể lấy được. Bạch ngài, lúc đầu con đã thưa rằng: ‘Con không biết,’ sau đó con đã thực hành lời dạy đúng như vậy.”
899.
899.
899.
‘‘Mā ca parajanassa rakkhitāyo, parabhariyā agamā anariyametaṃ;
Noti paṭhamaṃ avocahaṃ bhante, pacchā te vacanaṃ tathevakāsiṃ;
‘Do not go to the wives of others, who are guarded by other people; this is an ignoble act.’ Venerable Sir, at first I said, ‘I do not know,’ but afterwards, I acted just according to your word.
“Chớ có đi đến với vợ của người khác, những người được người khác gìn giữ; đây là hành vi không cao thượng. Bạch ngài, lúc đầu con đã thưa rằng: ‘Con không biết,’ sau đó con đã thực hành lời dạy của ngài đúng như vậy.”
900.
900.
900.
‘‘Mā ca vitathaṃ aññathā abhāṇi,
Na hi musāvādaṃ avaṇṇayiṃsu sappaññā;
Noti paṭhamaṃ avocahaṃ bhante, pacchā te vacanaṃ tathevakāsiṃ.
‘Do not speak falsely or otherwise, for the wise do not praise false speech.’ Venerable Sir, at first I said, ‘I do not know,’ but afterwards, I acted just according to your word.
“Chớ có nói lời sai sự thật, theo cách khác. Vì rằng bậc hiền trí không tán thán lời nói dối. Bạch ngài, lúc đầu con đã thưa rằng: ‘Con không biết,’ sau đó con đã thực hành lời dạy của ngài đúng như vậy.”
901.
901.
901.
‘‘Yena ca purisassa apeti saññā, taṃ majjaṃ parivajjayassu sabbaṃ;
Noti paṭhamaṃ avocahaṃ bhante, pacchā te vacanaṃ tathevakāsiṃ.
‘Avoid all intoxicants by which a person’s perception is lost.’ Venerable Sir, at first I said, ‘I do not know,’ but afterwards, I acted just according to your word.
“Hãy từ bỏ tất cả các chất say, thứ mà do nó, tưởng của người ta bị mất đi. Bạch ngài, lúc đầu con đã thưa rằng: ‘Con không biết,’ sau đó con đã thực hành lời dạy của ngài đúng như vậy.”
902.
902.
902.
‘‘Svāhaṃ idha pañca sikkhā karitvā, paṭipajjitvā tathāgatassa dhamme;
Dvepathamagamāsiṃ coramajjhe, te maṃ tattha vadhiṃsu bhogahetu.
Having undertaken the five precepts here and practiced in accordance with the Tathāgata’s Dhamma, I went on a road between two villages, into the midst of robbers. They killed me there for the sake of my wealth.
“Chính con, sau khi đã thọ trì năm học giới ở đây, và thực hành theo giáo pháp của Như Lai, đã đi vào con đường ngã hai giữa bọn cướp. Tại đó, chúng đã giết con vì lý do tài sản.”
903.
903.
903.
‘‘Ettakamidaṃ anussarāmi kusalaṃ, tato paraṃ na me vijjati aññaṃ;
Tena sucaritena kammunāhaṃ †, uppanno † tidivesu kāmakāmī.
This much wholesome deed I recollect; beyond that, there is no other for me. By that well-practiced kamma, I was reborn among the Tāvatiṃsa devas, a fulfiller of desires.
“Con chỉ nhớ được việc thiện này chừng ấy, ngoài ra con không có việc thiện nào khác. Do nghiệp thiện hạnh ấy, con đã được sanh vào cõi trời Ba Mươi Ba, là người hưởng thụ các dục lạc.”
904.
904.
904.
‘‘Passa khaṇamuhuttasaññamassa, anudhammappaṭipattiyā vipākaṃ;
Jalamiva yasasā samekkhamānā, bahukā maṃ pihayanti hīnakammā.
Behold the result of restraint for a moment, an instant, of practice in accordance with the Dhamma! Observing me, blazing with glory, many of lowly kamma look on with longing.
“Xin hãy xem quả báo của sự chế ngự trong khoảnh khắc, của sự thực hành thuận theo pháp. Nhiều vị có nghiệp thấp kém, khi nhìn thấy con rực rỡ với danh tiếng, đã ao ước.”
905.
905.
905.
‘‘Passa katipayāya desanāya, sugatiñcamhi gato sukhañca patto;
Ye ca te satataṃ suṇanti dhammaṃ, maññe te amataṃ phusanti khemaṃ.
Behold, from a brief teaching, I have gone to a good destination and attained happiness. And those who constantly listen to the Dhamma, I think they will touch the Deathless, the Secure.
“Xin hãy xem (quả báo) của bài thuyết pháp ngắn ngủi, con đã đến được thiện thú và đạt được an lạc. Những ai thường xuyên nghe pháp, con nghĩ rằng họ sẽ chứng đắc được Bất Tử, an ổn.”
906.
906.
906.
‘‘Appampi kataṃ mahāvipākaṃ, vipulaṃ hoti † tathāgatassa dhamme;
Passa katapuññatāya chatto, obhāseti pathaviṃ yathāpi sūriyo.
Even a little deed done in the Tathāgata’s Dispensation has a great and abundant result. Behold how Chatta, due to his merit, illuminates this place on earth like the sun!
“Dù chỉ một chút (thiện) được làm trong giáo pháp của Như Lai cũng có quả báo lớn lao, rộng khắp. Hãy xem, do đã tạo phước, chàng thanh niên Chatta chiếu sáng mặt đất như mặt trời.”
907.
907.
907.
‘‘Kimidaṃ kusalaṃ kimācarema, icceke hi samecca mantayanti;
Te mayaṃ punareva † laddha mānusattaṃ, paṭipannā viharemu sīlavanto.
‘What is this wholesome deed? How should we practice it?’ Thus some gather and deliberate. ‘May we, having again obtained human existence, live practicing, endowed with virtue.’
“‘Việc thiện này là gì? Chúng ta nên thực hành điều gì?’ Một số vị đã tụ họp lại và bàn luận như vậy. ‘Chúng ta, khi lại được làm người, sẽ sống có giới hạnh, thực hành (pháp).’”
908.
908.
908.
‘‘Bahukāro anukampako ca satthā, iti me sati agamā divā divassa;
Svāhaṃ upagatomhi saccanāmaṃ, anukampassu punapi suṇemu † dhammaṃ.
‘The Teacher is of great help and is compassionate’—thus mindfulness came to me day by day. I have now approached you whose name is Truth. Have compassion, that we may hear the Dhamma once again.
“Bậc Đạo Sư là người đã ban nhiều ân huệ và có lòng bi mẫn. Vì thế, khi con còn sống, ngài đã đến vào giữa ban ngày. Chính con đã đến với bậc có danh hiệu chân thật. Xin hãy bi mẫn, chúng con sẽ lại được nghe pháp.”
909.
909.
909.
‘‘Ye cidha † pajahanti kāmarāgaṃ, bhavarāgānusayañca pahāya mohaṃ;
Na ca te punamupenti gabbhaseyyaṃ, parinibbānagatā hi sītibhūtā’’ti.
Those who here abandon sensual passion, and having abandoned delusion, also abandon the underlying tendency to craving for existence, they do not come to lie in a womb again; for having become cooled, they have attained final Nibbāna.
“Những ai ở đây từ bỏ được ái dục, và sau khi đoạn trừ si mê, từ bỏ được tùy miên hữu ái, những vị ấy sẽ không còn tái sanh vào trong bụng mẹ. Vì rằng, các vị ấy đã trở nên tịch tịnh, đã đạt đến viên tịch.”
Chattamāṇavakavimānaṃ tatiyaṃ.
The Third Story: The Celestial Mansion of the Young Man Chatta.
Thiên cung của thanh niên Chatta, câu chuyện thứ ba.