Bản dịch
VV 50 — Thiên Cung của Rajjumālā
12. Rajjumālāvimānavatthu
BJT 827“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật. Nàng duỗi ra các bàn tay và các bàn chân, nàng nhảy múa ở phần trình tấu khéo léo.
BJT 828Trong khi nàng đây đang nhảy múa, các âm thanh thuộc cõi Trời, làm êm tai, làm thích ý, phát ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
BJT 829Trong khi nàng đây đang nhảy múa, các hương thơm thuộc cõi Trời, là các hương thơm tinh khiết, làm thích ý, tỏa ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
BJT 830Trong khi nàng đang xoay tròn cơ thể, tiếng ngân vang của các vật trang sức ở các bím tóc được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 831Các vòng hoa đeo tai bị gió thổi, bị lay động bởi làn gió, tiếng ngân vang của chúng được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 832Luôn cả những tràng hoa ở trên đầu của nàng là có hương thơm tinh khiết, làm thích ý; giống như cây mañjūsaka, hương thơm (của tràng hoa) thổi đi khắp các phương.
BJT 833Nàng ngửi hương thơm tinh khiết ấy, nàng nhìn thấy hình ảnh không thuộc nhân gian. Hỡi nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 834“Trước đây, tôi đã là tỳ nữ của người Bà-la-môn ở Gayā. Tôi có phước báu ít ỏi, không được may mắn; mọi người đã biết tôi là ‘Rajjumālā’ (cô gái có tràng hoa là sợi dây thừng).
BJT 835Bị đày đọa bởi sự dọa nạt và những sự mắng nhiếc, đánh đập, tôi đã cầm lấy bình nước, lìa khỏi, và đã đi vì việc mang nước.
BJT 836Sau khi để xuống cái bình nước ở con đường rẽ, tôi đã tiến vào khu rừng rậm (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ chết ở ngay tại đây. Có ích gì với mạng sống của ta?’
BJT 837Sau khi làm cái thòng lọng chắc chắn rồi máng vào thân cây, sau đó tôi đã xem xét các hướng (nghĩ rằng): ‘Người nào hiện đang sống ở rừng?’
BJT 838Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, đấng Phúc Lợi của tất cả thế gian, bậc Hiền Trí, ngồi ở gốc cây, đang tham thiền, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu.
BJT 839Tôi đây đã có sự chấn động, có sự nổi da gà kỳ lạ (nghĩ rằng): ‘Người nào hiện đang sống ở rừng, loài người hay là Thiên nhân?’
BJT 840Sau khi nhìn thấy vị tạo được niềm tin, đáng được tin tưởng, đã lìa khỏi khu rừng (phiền não) đến nơi không còn rừng (phiền não), tâm của tôi đã được tịnh tín (nghĩ rằng): ‘Người này không giống người bình thường.
BJT 841Có các giác quan đã được canh phòng, được thích thú với việc tham thiền, có tâm ý không hướng ngoại, vị này đây sẽ là đức Phật, đấng Phúc Lợi của tất cả thế gian, …
BJT 842… tựa như con sư tử nương náu ở hang động, gây ra nỗi sợ hãi và khiếp đảm, khó mà tiếp cận, khó được gặp, giống như bông hoa odumbara.’
BJT 843Sau khi chuyện trò với tôi bằng những lời nói dịu dàng, đức Như Lai ấy đã nói với tôi rằng: ‘Này Rajjumālā, hãy đi đến nương nhờ đức Như Lai.’
BJT 844Tôi đã lắng nghe lời nói không sai sót, có lợi ích, thanh tịnh, bặt thiệp, mềm mỏng, ngọt ngào, và có sự xua đi tất cả sầu muộn.
BJT 845Sau khi biết được tôi có tâm đã sẵn sàng, được tịnh tín, có tâm ý trong sạch, đấng Phúc Lợi của tất cả thế gian, đức Như Lai đã chỉ dạy rằng:
BJT 846‘Đây là Khổ,’ Ngài đã nói với tôi như thế. ‘Đây là Nguồn Gốc của Khổ, đây là sự Tịch Diệt, và Đạo Lộ trực chỉ thâm nhập vào sự Bất Tử.’
BJT 847Tôi đã trụ lại trong lời giáo huấn của bậc thiện xảo có lòng thương tưởng; tôi đã chứng đắc sự Bất Tử, an tịnh, Niết Bàn, vị thế vĩnh cửu.
BJT 848Tôi đây đã đứng vững, có lòng yêu mến, không có sự dao động về quan điểm, với đức tin đã được sanh ra từ cội rễ, là người con gái chánh thống của đức Phật.
BJT 849Tôi đây thích thú, đùa giỡn, vui sướng, không có sự sợ hãi từ bất cứ đâu, tôi mang tràng hoa của cõi Trời, tôi uống sự dịu ngọt của mật ong.
BJT 850Có sáu mươi ngàn nhạc cụ làm công việc tiêu khiển cho tôi. (Các nhạc công nam) Āḷamba, Gaggara, Bhīma, Sādhuvādī, và Saṁsaya, …
BJT 851… Pokkhara, Suphassa, còn các tiên nữ là Vīṇā, Mokkhā, Nandā, luôn cả Sunandā, Soṇadinnā, và Sucimhitā, …
BJT 852… Aḷambusā, Missakesī và Puṇḍarīkā, Aticāruṇī, Eṇiphassā, Suphassā và Subhaddā, Muduvādinī.
BJT 853Các cô này và các cô khác là những người làm công việc tiêu khiển giỏi hơn hết trong số các Thiên nhân. Vào thời điểm thích hợp, các Thiên nhân tự nguyện đi đến thưa rằng:
BJT 854‘Nào, hãy để chúng tôi múa, hãy để chúng tôi ca. Nào, hãy để chúng tôi làm cho nàng thích thú.’ (Khu vườn) Nandana không sầu muộn đáng yêu này, khu vườn lớn ở cõi Ba Mươi (Ba), là không dành cho những người không làm phước thiện, nơi này chỉ dành cho những người đã làm phước thiện.
BJT 855Không có sự an lạc cho những người không làm phước thiện ở nơi này và nơi khác, nhưng có sự an lạc cho những người đã làm phước thiện ngay ở nơi này và nơi khác nữa.
BJT 856Đối với những người mong mỏi sự cộng trú ấy thì nên làm nhiều việc tốt lành, bởi vì những người đã làm phước thiện là những người thành tựu tài sản, được vui sướng ở cõi Trời.
BJT 857Thật vậy, các đức Như Lai hiện khởi vì lợi ích của số đông, các Ngài xứng đáng được cúng dường, là những nơi sản xuất các ruộng phước cho loài người; sau khi thể hiện sự phục vụ ở những nơi ấy, các thí chủ đi đến cõi Trời.”
Thiên Cung của Rajjumālā.
Phẩm Mañjeṭṭhaka là thứ tư.
TÓM LƯỢC PHẨM NÀY
(Thiên cung) màu đỏ tía, rực rỡ, long tượng, Alomā, người nữ bố thí cháo chua, trú xá, bốn phụ nữ, vườn xoài, (Thiên cung) màu vàng, (chuyện) khúc mía, do sự đảnh lễ, (chuyện) Rajjumālā; bởi vậy phẩm được gọi tên thế ấy.
Thiên Cung Nữ Giới được đầy đủ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Dāsī ahaṃ pure āsiṃ, gayāyaṃ brāhmaṇassahaṃ;
Appapuññā alakkhikā, rajjumālāti maṃ viduṃ †.
“Formerly, in Gayā, I was the female slave of a brahmin; of little merit and without fortune, they knew me as Rajjumālā.
“Thuở trước, con là nữ tỳ của một vị Bà-la-môn ở Gayā. Con ít phước đức, không may mắn. Người ta biết đến con với tên gọi Rajjumālā.”
834.
834.
834.
‘‘Akkosānaṃ vadhānañca, tajjanāya ca uggatā †;
Kuṭaṃ gahetvā nikkhamma, agañchiṃ † udahāriyā †.
“Distressed by insults, beatings, and threats, I took a water pot and went out of the house, as if to fetch water.
“Bị phiền muộn bởi những lời mắng nhiếc, đánh đập, và dọa nạt, con đã lấy bình nước, rời khỏi nhà, và đi như thể để lấy nước.”
835.
835.
835.
‘‘Vipathe kuṭaṃ nikkhipitvā, vanasaṇḍaṃ upāgamiṃ;
Idhevāhaṃ marissāmi, ko attho † jīvitena me.
“Having put down the water pot off the path, I approached a forest grove, thinking: ‘Here indeed I shall die; what is the use of life to me?’
“Đặt bình nước xuống vệ đường, con đi vào một lùm cây trong rừng. ‘Ta sẽ chết ngay tại đây, sống còn có ích gì cho ta.’”
836.
836.
836.
‘‘Daḷhaṃ pāsaṃ karitvāna, āsumbhitvāna pādape;
Tato disā vilokesiṃ,ko nu kho vanamassito.
“Having made a strong noose and hung it on a tree, I then looked in all directions, thinking: ‘Who, I wonder, is residing in this forest?’”
“Làm một cái thòng lọng thật chắc, treo lên cây, rồi con nhìn khắp các phương, ‘Có ai đang ở trong khu rừng này không?’”
837.
837.
837.
‘‘Tatthaddasāsiṃ sambuddhaṃ, sabbalokahitaṃ muniṃ;
Nisinnaṃ rukkhamūlasmiṃ, jhāyantaṃ akutobhayaṃ.
“There I saw the Perfectly Enlightened One, the benefactor of the whole world, the sage, seated at the foot of a tree, meditating, free from all fear.
“Ở đó, con đã thấy bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Thánh nhân vì lợi ích của toàn thế gian, đang ngồi dưới gốc cây, thiền định, không còn sợ hãi.”
838.
838.
838.
‘‘Tassā me ahu saṃvego, abbhuto lomahaṃsano;
Ko nu kho vanamassito, manusso udāhu devatā.
“For me there arose a sense of awe, wondrous and hair-raising: ‘Who, I wonder, is residing in this forest? Is it a human, or could it be a deity?’”
“Lúc ấy, con cảm thấy một sự xúc động (saṃvega) kỳ diệu, làm dựng tóc gáy. ‘Ai đang ở trong khu rừng này? Là người hay là một vị trời?’”
839.
839.
839.
‘‘Pāsādikaṃ pasādanīyaṃ, vanā nibbanamāgataṃ;
Disvā mano me pasīdi, nāyaṃ yādisakīdiso.
“Seeing him, who was inspiring and worthy of inspiration, who had come from the forest to the state without craving, my mind became serene, thinking: ‘This is no ordinary person.’
“Thấy Ngài, người truyền cảm hứng tín thành, xứng đáng với sự tín thành, đã từ rừng (phiền não) đến nơi không rừng (Niết-bàn), tâm con trở nên thanh tịnh. ‘Vị này không phải là người tầm thường.’”
840.
840.
840.
‘‘Guttindriyo jhānarato, abahiggatamānaso;
Hito sabbassa lokassa, buddho ayaṃ † bhavissati.
“With senses guarded, delighting in jhāna, his mind not straying outwards, a benefactor to the whole world—this must be the Buddha.
“‘Vị này có các căn được phòng hộ, ưa thích thiền định, tâm không hướng ngoại. Ngài là người mang lại lợi ích cho toàn thế gian, chắc hẳn đây là một vị Phật.’”
841.
841.
841.
‘‘Bhayabheravo durāsado, sīhova guhamassito;
Dullabhāyaṃ dassanāya, pupphaṃ odumbaraṃ yathā.
“Inspiring fear and awe, difficult to approach, like a lion residing in its cave; he is as rare to see as the udumbara flower.
“Ngài đáng kính sợ, khó tiếp cận, như sư tử trong hang. Được thấy Ngài thật hiếm có, như hoa ưu đàm vậy.”
842.
842.
842.
‘‘So maṃ mudūhi vācāhi, ālapitvā tathāgato;
Rajjumāleti maṃvoca, saraṇaṃ gaccha tathāgataṃ.
“That Tathāgata, having addressed me with gentle words, said to me, ‘Rajjumālā, go for refuge to the Tathāgata.’
“Bậc Như Lai ấy đã gọi con bằng những lời lẽ dịu dàng, Ngài nói với con: ‘Này Rajjumālā, hãy quy y Như Lai.’”
843.
843.
843.
‘‘Tāhaṃ giraṃ suṇitvāna, nelaṃ atthavatiṃ suciṃ;
Saṇhaṃ muduñca vagguñca, sabbasokāpanūdanaṃ.
“Having heard that speech—faultless, meaningful, pure, subtle, gentle, pleasant, and dispelling all sorrow—
“Khi con nghe những lời nói ấy, không lỗi lầm, đầy ý nghĩa, trong sạch, tinh tế, dịu dàng, ngọt ngào, và xua tan mọi sầu muộn.”
844.
844.
844.
‘‘Kallacittañca maṃ ñatvā, pasannaṃ suddhamānasaṃ;
Hito sabbassa lokassa, anusāsi tathāgato.
“Knowing me to have a receptive mind, serene, with a pure heart, the Tathāgata, the benefactor of the whole world, instructed me.
“Biết con có tâm sẵn sàng, thanh tịnh và trong sạch, bậc Như Lai, người vì lợi ích của toàn thế gian, đã giáo huấn cho con.”
845.
845.
845.
‘‘Idaṃ dukkhanti maṃvoca, ayaṃ dukkhassa sambhavo;
Dukkha † nirodho maggo ca †, añjaso amatogadho.
“‘This is suffering,’ he told me, ‘this is the origin of suffering, the cessation of suffering, and the path—the direct way leading to the Deathless.’
“Ngài nói với con: ‘Đây là Khổ,’ ‘Đây là nguồn gốc của Khổ,’ ‘Sự diệt Khổ,’ và ‘Con đường, thẳng tắp, dẫn đến bất tử.’”
846.
846.
846.
‘‘Anukampakassa kusalassa, ovādamhi ahaṃ ṭhitā;
Ajjhagā amataṃ santiṃ, nibbānaṃ padamaccutaṃ.
“Established in the instruction of the compassionate and skillful one, I attained the deathless peace, Nibbāna, the unshakeable state.
“Con đã vững vàng trong lời giáo huấn của bậc bi mẫn và thiện xảo, đã chứng đạt Niết-bàn, trạng thái bất tử, an tịnh, và bất biến.”
847.
847.
847.
‘‘Sāhaṃ avaṭṭhitāpemā, dassane avikampinī;
Mūlajātāya saddhāya, dhītā buddhassa orasā.
“I, with established affection, am unshaken in the vision; with faith that is well-rooted, I am the Buddha’s own true daughter.”
“Con là người có tình thương vững chắc, không lay chuyển trong chánh kiến, với đức tin đã bén rễ sâu. Con là người con gái sinh ra từ tâm của Đức Phật.”
848.
848.
848.
‘‘Sāhaṃ ramāmi kīḷāmi, modāmi akutobhayā;
Dibbamālaṃ dhārayāmi, pivāmi madhumaddavaṃ.
“Without fear from any quarter, I delight, I sport, and I rejoice. I wear a divine garland and drink a sweet, mellowing beverage.
Con đây vui hưởng, vui chơi, hoan hỷ, không còn sợ hãi từ đâu; con trang hoàng vòng hoa chư thiên, con uống loại rượu ngọt ngào.
849.
849.
849.
‘‘Saṭṭhituriyasahassāni, paṭibodhaṃ karonti me;
Āḷambo gaggaro bhīmo, sādhuvādī ca saṃsayo.
“Sixty thousand musical instruments awaken me: Āḷamba, Gaggara, Bhīma, Sādhuvādī, and Saṃsaya.
Sáu mươi ngàn nhạc khí khơi dậy niềm hoan hỷ cho con; (đó là) trống Āḷamba, Gaggara, Bhīma, và Sādhuvādī, và Saṃsaya.
850.
850.
850.
‘‘Pokkharo ca suphasso ca, vīṇāmokkhā ca nāriyo;
Nandā ceva sunandā ca, soṇadinnā sucimhitā.
Also Pokkhara and Suphassa, and the nymphs Vīṇāmokkhā, Nandā and Sunandā, Soṇadinnā, and Sucimhitā.
Cả trống Pokkhara và Suphassa, và các tiên nữ Vīṇāmokkhā; cả Nandā và Sunandā, Soṇadinnā, Sucimhitā.
851.
851.
851.
‘‘Alambusā missakesī ca, puṇḍarīkātidāruṇī †;
Eṇīphassā suphassā † ca, subhaddā † muduvādinī.
Alambusā and Missakesī, Puṇḍarikā and Atidāruṇī, Eṇīphassā and Suphassā, Subhaddā and Muduvādinī.
Alambusā và Missakesī, Puṇḍarīkā, Atidāruṇī; Eṇīphassā và Suphassā, Subhaddā, Muduvādinī.
852.
852.
852.
‘‘Etā caññā ca seyyāse, accharānaṃ pabodhikā;
Tā maṃ kālenupāgantvā, abhibhāsanti devatā.
“These and other most excellent ones among the celestial nymphs are my awakeners. Those deities, approaching me at the proper time, address me:
Những vị này và những vị khác, những tiên nữ xuất sắc nhất, là những người khơi dậy niềm hoan hỷ cho con; những vị thiên nữ ấy, vào thời điểm thích hợp, đến gần con và nói chuyện.
853.
853.
853.
‘‘Handa naccāma gāyāma, handa taṃ ramayāmase;
Nayidaṃ akatapuññānaṃ, katapuññānamevidaṃ.
‘Come, let us dance and sing! Come, let us delight you! This is not for those who have not made merit; this is indeed for those who have made merit.
‘Nào, chúng ta hãy múa, hãy hát, nào, chúng ta hãy làm cho ngài vui thích; nơi này không dành cho người không có phước, đây chỉ dành cho người đã tạo phước.’
854.
854.
854.
‘‘Asokaṃ nandanaṃ rammaṃ, tidasānaṃ mahāvanaṃ;
Sukhaṃ akatapuññānaṃ, idha natthi parattha ca.
The sorrowless, gladdening, delightful Nandana is the great forest of the Thirty-three gods. For those who have not made merit, there is no happiness here or in the next world.
Khu rừng lớn của chư thiên Ba Mươi Ba, không sầu muộn, vui thú, và đáng say mê; đối với người không tạo phước, không có hạnh phúc ở đây hay ở đời sau.
855.
855.
855.
‘‘Sukhañca katapuññānaṃ, idha ceva parattha ca;
Tesaṃ sahabyakāmānaṃ, kattabbaṃ kusalaṃ bahuṃ;
Katapuññā hi modanti, sagge bhogasamaṅgino.
And for those who have made merit, there is happiness both here and in the next world. For those who desire their companionship, much that is wholesome should be done. For indeed, those who have made merit rejoice in heaven, endowed with enjoyments.
Và có hạnh phúc cho người đã tạo phước, cả ở đây và ở đời sau; những ai mong muốn được đồng hành cùng họ, nên làm nhiều điều thiện; vì người đã tạo phước được hoan hỷ trên thiên giới, sở hữu đầy đủ tài sản.
856.
856.
856.
‘‘Bahūnaṃ vata atthāya, uppajjanti tathāgatā;
Dakkhiṇeyyā manussānaṃ, puññakhettānamākarā;
Yattha kāraṃ karitvāna, sagge modanti dāyakā’’ti.
“Indeed, for the welfare of many do Tathāgatas arise! They are worthy of the offerings of humankind, a mine for fields of merit. Having made offerings to them, donors rejoice in heaven.”
Quả thật, các đấng Như Lai xuất hiện vì lợi ích của nhiều chúng sanh; các ngài là những bậc đáng được cúng dường của loài người, là nguồn của những ruộng phước; nơi các ngài, sau khi đã cúng dường, các thí chủ được hoan hỷ trên thiên giới.
Rajjumālāvimānaṃ dvādasamaṃ.
The twelfth is the story of the Rajjumālā celestial mansion.
Thiên cung Rajjumālā, thứ mười hai.
Mañjiṭṭhakavaggo catuttho niṭṭhito.
The Mañjiṭṭhaka Chapter, the fourth, is concluded.
Phẩm Mañjiṭṭhaka, thứ tư, đã kết thúc.
Tassuddānaṃ –
The summary thereof:
Tóm lược của phẩm ấy:
Mañjiṭṭhā pabhassarā nāgā, alomākañjikadāyikā;
Vihāracaturitthambā, pītā ucchuvandanarajjumālā ca;
Vaggo tena pavuccatīti.
Mañjiṭṭhā, Pabhassarā, Nāgā, Alomā, and Kañjikadāyikā; Vihāra, Caturitthī, Ambā, Pītā, Ucchu, Vandana, and Rajjumālā. By these is the chapter named.
Mañjiṭṭhā, Pabhassarā, Nāgā, Alomā, người cúng dường cháo; Vihāra, Bốn Nữ Nhân, Ambā, Pītā, Ucchu, Vandanā, và Rajjumālā; Phẩm được gọi tên theo đó.
The Celestial Mansions of the Women is concluded.
Thiên Cung Nữ Nhân đã hoàn tất.