Bản dịch
VV 48 — Thiên Cung Khúc Mía
10. Ucchuvimānavatthu
BJT 809“Sau khi làm chói sáng trái đất luôn cả chư Thiên, nàng sáng chói vượt trội, tựa như mặt trăng và mặt trời, với sự vinh quang, với sắc đẹp, với danh tiếng, và với quyền uy, tựa như vị Đại Phạm Thiên sáng chói vượt trội chư Thiên và thần Inda ở cõi Ba Mươi (Ba).
BJT 810Hỡi cô nàng có mang tràng hoa sen xanh, có vòng hoa đội đầu, có làn da như là vàng, đã được trang điểm, có sự trang phục với loại vải thượng hạng, ta hỏi nàng: Hỡi nàng tiên xinh đẹp, nàng là ai mà đảnh lễ ta?
BJT 811Trước đây, nàng đã tự mình tạo nghiệp gì, khi là con người ở kiếp sống trước đây, là việc bố thí đã khéo được thực hiện hay sự thu thúc giới hạnh? Này cô nàng có danh tiếng, do việc (phước thiện) nào mà nàng đã được sanh lên chốn an vui? Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 812“Thưa ngài, mới đây, ở chính ngôi làng này, ngài đã đi đến căn nhà của chúng tôi để khất thực. Do đó, có tâm tịnh tín, tôi đã dâng ngài khúc mía với niềm vui không gì sánh bằng.
BJT 813Và sau đó, mẹ chồng chất vấn tôi rằng: ‘Này cô dâu, cô đã ném bỏ khúc mía ở chỗ nào?’ ‘Con đã không quăng bỏ, hơn nữa con cũng không có ăn, con đã đích thân dâng đến vị tỳ khưu an tịnh.’
BJT 814‘Quyền hành này là thuộc về cô hay thuộc về tôi?’ Người mẹ chồng đã mắng chửi tôi như thế, rồi đã cầm lấy cục đất và giáng cho tôi cú đánh. Đã chết từ nơi ấy, tôi đã qua đời, trở thành vị Thiên nhân.
BJT 815Chính nghiệp thiện ấy đã được tạo ra bởi tôi. Và tôi thụ hưởng hạnh phúc, quả báu về nghiệp của mình. Tôi tiêu khiển cùng với chư Thiên, tôi vui sướng với năm loại dục.
BJT 816Chính nghiệp thiện ấy đã được tạo ra bởi tôi. Và tôi thụ hưởng hạnh phúc, quả báu về nghiệp của mình. Được hộ trì bởi vị Chúa của chư Thiên, được bảo vệ bởi chư Thiên ở cõi Ba Mươi (Ba), tôi được cung ứng với năm loại dục.
BJT 817Quả phước thiện như thế ấy không phải là ít, việc cúng dường mía của tôi là có quả thành tựu lớn lao. Tôi tiêu khiển cùng với chư Thiên, tôi vui sướng với năm loại dục.
BJT 818Quả phước thiện như thế ấy không phải là ít, việc cúng dường mía của tôi có sự vinh quang lớn lao. Được hộ trì bởi vị Chúa của chư Thiên, được bảo vệ bởi chư Thiên ở cõi Ba Mươi (Ba), (tôi) tựa như vị Thần Ngàn Mắt ở khu vườn Nandana.
BJT 819Và thưa ngài, sau khi đến gần ngài, vị có lòng thương xót, có sự hiểu biết, tôi đã đảnh lễ và đã hỏi về sức khỏe. Do đó, có tâm tịnh tín, tôi đã dâng ngài khúc mía với niềm vui không gì sánh bằng.”
Thiên Cung Khúc Mía.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Obhāsayitvā pathaviṃ † sadevakaṃ, atirocasi candimasūriyā viya;
Siriyā ca vaṇṇena yasena tejasā, brahmāva deve tidase sahindake †.
Having illuminated the earth with its heavens, you shine exceedingly like the moon and sun. With glory, beauty, retinue, and majesty, you shine exceedingly, just as Brahmā outshines the devas of the Thirty-Three, together with Inda.
“Nàng tỏa sáng khắp cõi đất và cõi trời, rực rỡ hơn cả mặt trăng và mặt trời. Với vẻ huy hoàng, dung sắc, danh tiếng và oai lực, nàng vượt trội hơn cả chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba cùng với vua của họ, giống như Phạm thiên vậy.”
297.
297.
297.
‘‘Pucchāmi taṃ uppalamāladhārinī, āveḷinī kañcanasannibhattace;
Alaṅkate uttamavatthadhārinī, kā tvaṃ subhe devate vandase mamaṃ.
I ask you, O wearer of lotus garlands, with jeweled ear ornaments, a complexion like pure gold, adorned, wearing the finest garments—O beautiful goddess, who are you that pays homage to me?
“Ta hỏi nàng, người đeo tràng hoa sen xanh, đeo trang sức tai, có làn da như vàng ròng; người được trang hoàng, mặc y phục tối thượng. Hỡi thiên nữ xinh đẹp, nàng là ai mà đảnh lễ ta?”
298.
298.
298.
‘‘Kiṃ tvaṃ pure kammamakāsi attanā, manussabhūtā purimāya jātiyā;
Dānaṃ suciṇṇaṃ atha sīlasaṃyamaṃ †, kenūpapannā sugatiṃ yasassinī;
Devate pucchitācikkha, kissa kammassidaṃ phala’’nti.
What deed did you yourself perform in the past, when you were a human in a former life? Was it well-practiced giving, or did you undertake virtue and restraint? By what deed were you, possessed of a great retinue, reborn in a good destination? O goddess, being asked, please explain: of what deed is this the fruit?
“Trong quá khứ, khi còn là người trong kiếp trước, tự thân nàng đã làm nghiệp gì? Có phải là sự bố thí được thực hành tốt đẹp, hay là sự thu thúc trong giới hạnh? Do nhân gì mà nàng, người có danh tiếng, được sanh về cõi lành? Hỡi thiên nữ, xin hãy cho biết khi được hỏi, đây là quả của nghiệp gì?”
299.
299.
299.
‘‘Idāni bhante imameva gāmaṃ †, piṇḍāya amhākaṃ gharaṃ upāgami;
Tato te ucchussa adāsi khaṇḍikaṃ, pasannacittā atulāya pītiyā.
Venerable sir, just now you came to this very village, to our house, for alms. Then, with a confident mind and with immeasurable joy, I gave you a piece of sugarcane.
“Bạch ngài, vừa rồi ngài đã đến nhà của chúng con trong chính ngôi làng này để khất thực. Khi ấy, với tâm tịnh tín và niềm hoan hỷ vô song, con đã dâng cúng ngài một khúc mía.”
300.
300.
300.
‘‘Sassu ca pacchā anuyuñjate mamaṃ, kahaṃ † nu ucchuṃ vadhuke avākiri †;
Na chaḍḍitaṃ no pana khāditaṃ mayā, santassa bhikkhussa sayaṃ adāsahaṃ.
And afterwards, my mother-in-law questioned me: ‘Daughter-in-law, where did you throw away the sugarcane?’ ‘It was not thrown away by me, nor was it eaten; I myself gave it to a peaceful monk.’
“Và sau đó, mẹ chồng đã hỏi con: ‘Này con dâu, con đã vứt mía ở đâu vậy?’ (Con thưa:) ‘Con không vứt bỏ, cũng không ăn. Con đã tự tay dâng cúng cho vị Tỳ-khưu tịch tịnh.’”
301.
301.
301.
‘‘Tuyhaṃnvidaṃ † issariyaṃ atho mama, itissā sassu paribhāsate mamaṃ;
Pīṭhaṃ gahetvā pahāraṃ adāsi me, tato cutā kālakatāmhi devatā.
‘Is this authority yours, or is it mine?’ Thus my mother-in-law reviled me. Taking a stool, she gave me a blow. Having passed away from that state, I died and am now a goddess.
“‘Quyền hành này là của ngươi hay của ta?’, mẹ chồng đã mắng nhiếc con như vậy. Bà ấy lấy chiếc ghế đẩu và đánh đập con. Do vậy, sau khi mệnh chung, con đã trở thành một vị thiên nữ.
302.
302.
302.
‘‘Tadeva kammaṃ kusalaṃ kataṃ mayā, sukhañca kammaṃ anubhomi attanā;
Devehi saddhiṃ paricārayāmahaṃ, modāmahaṃ kāmaguṇehi pañcahi.
That very wholesome deed was done by me, and I myself experience its happy result. Together with the devas, I delight, and I rejoice in the five strands of sensual pleasure.
“Con đã làm chính thiện nghiệp ấy. Con tự mình hưởng thụ quả báo an lạc của nghiệp ấy. Con được đi lại cùng với chư thiên. Con hoan hỷ với năm món dục lạc.”
303.
303.
303.
‘‘Tadeva kammaṃ kusalaṃ kataṃ mayā, sukhañca kammaṃ anubhomi attanā;
Devindaguttā tidasehi rakkhitā, samappitā kāmaguṇehi pañcahi.
That very wholesome deed was done by me, and I myself experience its happy result. Guarded by the king of devas, protected by the devas of the Thirty-Three, I am endowed with the five strands of sensual pleasure.
“Con đã làm chính thiện nghiệp ấy. Con tự mình hưởng thụ quả báo an lạc của nghiệp ấy. Con được Thiên chủ bảo vệ, được chư thiên cõi Ba Mươi Ba hộ trì, và được đầy đủ năm món dục lạc.”
304.
304.
304.
‘‘Etādisaṃ puññaphalaṃ anappakaṃ, mahāvipākā mama ucchudakkhiṇā;
Devehi saddhiṃ paricārayāmahaṃ, modāmahaṃ kāmaguṇehi pañcahi.
Such is the abundant fruit of merit; my offering of sugarcane has a great result. Together with the devas, I delight, rejoicing in the five strands of sensual pleasure.
“Quả phước như vậy không phải là nhỏ. Sự cúng dường mía của con có quả báo lớn lao. Con được đi lại cùng với chư thiên. Con hoan hỷ với năm món dục lạc.”
305.
305.
305.
‘‘Etādisaṃ puññaphalaṃ anappakaṃ, mahājutikā mama ucchudakkhiṇā;
Devindaguttā tidasehi rakkhitā, sahassanettoriva nandane vane.
Such is the abundant fruit of merit; my offering of sugarcane is of great majesty. Guarded by the king of devas, protected by the devas of the Thirty-Three, I rejoice like the thousand-eyed one in the Nandana Grove.
“Quả phước như vậy không phải là nhỏ. Sự cúng dường mía của con có oai lực lớn. Con được Thiên chủ bảo vệ, được chư thiên cõi Ba Mươi Ba hộ trì, giống như vị ngàn mắt (Đế Thích) trong vườn Nandana.”
306.
306.
306.
‘‘Tuvañca bhante anukampakaṃ viduṃ, upecca vandiṃ kusalañca pucchisaṃ;
Tato te ucchussa adāsi khaṇḍikaṃ, pasannacitā atulāya pītiyā’’ti.
Venerable sir, having approached you, knowing you to be compassionate, I paid homage and asked of your well-being. Then, with a confident mind and with immeasurable joy, I gave you a piece of sugarcane.
“Bạch ngài, biết ngài là bậc bi mẫn, con đã đến gần, đảnh lễ và hỏi thăm sức khỏe của ngài. Sau đó, với tâm tín thành và niềm hoan hỷ vô lượng, con đã dâng cúng ngài một khúc mía.”