Bản dịch
VV 47 — Thiên Cung Màu Vàng
9. Pītavimānavatthu
BJT 796“Hỡi cô nàng có y phục màu vàng, có cờ hiệu màu vàng, được điểm trang với các vật trang sức màu vàng, có cơ thể được bôi trầm hương màu vàng, có tràng hoa sen màu vàng.
BJT 797Hỡi cô nàng có tòa lâu đài và giường nằm màu vàng, có ghế ngồi màu vàng, có chén bát màu vàng, có lọng che màu vàng, có cỗ xe kéo màu vàng, có ngựa màu vàng, có quạt màu vàng.
BJT 798Này cô nàng hiền thục, nàng đã tạo nghiệp gì trong thời quá khứ ở cảnh giới loài người? Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 799“Thưa ngài, có loại dây leo tên là kosātakī, không được ca tụng, không được khao khát. Tôi đã mang bốn bông hoa của nó đến ngôi bảo tháp.
BJT 800Với tâm ý thanh tịnh hướng đến di thể xá-lợi của bậc Đạo Sư, trong khi có tâm ý đặt ở vật cao quý ấy, tôi đã không xem xét lối đi của con bò cái.
BJT 801Do đó, con bò cái đã húc chết tôi, lúc tâm ý còn chưa đạt đến ngôi bảo tháp. Nếu tôi có thể chu toàn việc ấy, chắc hẳn còn được nhiều hơn thế này nữa.
BJT 802Thưa vị chúa của chư Thiên, đấng Maghavā, bậc long tượng của chư Thiên, do nghiệp ấy, sau khi từ bỏ thân xác nhân loại, tôi đã đi đến trạng thái cộng trú với ngài.”
BJT 803Sau khi nghe được điều này, vị chúa tể của cõi Ba Mươi (Ba), đấng Maghavā, bậc long tượng của chư Thiên, trong khi tạo niềm tịnh tín cho (chư Thiên) cõi Ba Mươi (Ba), đã nói với Mātali điều này:
BJT 804“Này Mātali, ngươi hãy nhìn xem nghiệp quả (quả báo của nghiệp) này là kỳ diệu, đa dạng; vật dâng cúng đã được thực hiện mặc dầu ít ỏi nhưng phước báu có kết quả lớn lao.
BJT 805Khi tâm được tịnh tín, sự cúng dường ở đức Như Lai Chánh Đẳng Giác, hay là ở vị Thinh Văn của Ngài, không thể gọi là nhỏ nhoi.
BJT 806Này Mātali, hãy đến. Ngay cả chúng ta cũng nên tôn vinh các xá-lợi của đức Như Lai nhiều hơn nhiều hơn nữa; sự tích lũy các việc phước thiện là hạnh phúc.
BJT 807Khi Ngài đang còn tại tiền, và luôn cả khi Ngài đã tịch diệt, khi tâm bằng nhau thì quả báo bằng nhau. Các chúng sanh đi đến cảnh giới an vui do các yếu tố ở sự quyết định của tâm.
BJT 808Thật vậy, các đức Như Lai hiện khởi vì lợi ích của số đông; sau khi thực hiện sự phục vụ đến quý Ngài, các thí chủ đi đến cõi Trời.”
Thiên Cung Màu Vàng.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
9. Pītavimānavatthu
9. The Story of the Golden Mansion.
9. Câu chuyện về Thiên cung Sắc Vàng
795.
795.
795.
‘‘Pītavatthe pītadhaje, pītālaṅkārabhūsite;
Pītacandanalittaṅge, pītauppalamālinī †.
O you clad in golden garments, with golden banners, adorned with golden ornaments; your body anointed with golden sandalwood, wearing a garland of golden lotuses.
Này vị thiên nữ mặc y phục sắc vàng, phướn cờ sắc vàng, trang sức bằng đồ trang hoàng sắc vàng; thân thoa gỗ chiên-đàn sắc vàng, kết vòng hoa sen sắc vàng.
796.
796.
796.
‘‘Pītapāsādasayane, pītāsane pītabhājane;
Pītachatte pītarathe, pītasse pītabījane.
O you with a golden palace-couch, a golden seat, and golden vessels; with a golden parasol, a golden chariot, golden horses, and a golden fan.
Lâu đài và giường nằm sắc vàng, chỗ ngồi sắc vàng, vật dụng sắc vàng; lọng che sắc vàng, xe ngựa sắc vàng, ngựa kéo sắc vàng, và quạt cũng sắc vàng.
797.
797.
797.
‘‘Kiṃ kammamakarī bhadde, pubbe mānusake bhave;
Devate pucchitācikkha, kissa kammassidaṃ phala’’nti.
What kamma did you perform, O good lady, in a former human existence? O deity, being asked, please declare of what kamma this is the fruit.
Này hiền nữ, trong kiếp người trước đây, nàng đã làm nghiệp gì? Này thiên nữ, hãy cho ta biết khi được hỏi, quả báo này là do nghiệp gì?
798.
798.
798.
‘‘Kosātakī nāma latatthi bhante, tittikā anabhicchitā;
Tassā cattāri pupphāni, thūpaṃ abhihariṃ ahaṃ.
Venerable sir, there is a vine named Kosātakī, bitter and unwanted. I brought four of its flowers to the stupa.
Thưa ngài, có một loại dây leo tên là Kosātakī, vị đắng và không được ưa thích. Con đã mang bốn đóa hoa của nó đến dâng lên bảo tháp.
799.
799.
799.
‘‘Satthu sarīramuddissa, vippasannena cetasā;
Nāssa maggaṃ avekkhissaṃ, na taggamanasā † satī.
Intending them for the Teacher's relic, with a perfectly serene mind, I did not look at its path, nor was my mind directed towards it.
Hướng tâm đến xá-lợi của Bậc Đạo Sư, với tâm ý trong sạch. Do tâm không chú ý đến nó (con bò), nên con đã không nhìn đường đi của nó.
800.
800.
800.
‘‘Tato maṃ avadhī gāvī, thūpaṃ apattamānasaṃ;
Tañcāhaṃ abhisañceyyaṃ, bhiyyo † nūna ito siyā.
Then a cow killed me, my mind not having reached the stupa. Had I been able to complete that act of merit, the result would surely have been even greater than this.
Khi ấy, một con bò cái đã giết con, lúc tâm con chưa đến được bảo tháp. Nếu con đã tích lũy được phước báu ấy, chắc chắn quả báo sẽ còn thù thắng hơn thế này.
801.
801.
801.
‘‘Tena kammena devinda, maghavā devakuñjaro;
Pahāya mānusaṃ dehaṃ, tava sahabya † māgatā’’ti.
By that kamma, O lord of devas, O Māghavā, elephant among devas, having abandoned the human body, I have come into your company.
Thưa Thiên Đế, thưa Ma-ghá-va, bậc Thiên Tượng! Do nghiệp ấy, con đã từ bỏ thân người và đến làm bạn đồng hành cùng ngài.
802.
802.
802.
Idaṃ sutvā tidasādhipati, maghavā devakuñjaro;
Tāvatiṃse pasādento, mātaliṃ etadabravi †.
Hearing this, the lord of the Thirty-three, Māghavā, the elephant among devas, inspiring faith among the Tāvatiṃsa devas, spoke thus to Mātali.
Nghe vậy, Ma-ghá-va, vị Chúa của Ba Mươi Ba vị trời, bậc Thiên Tượng, trong khi làm cho chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba phát sinh tín tâm, đã nói điều này với Mātali.
803.
803.
803.
‘‘Passa mātali accheraṃ, cittaṃ kammaphalaṃ idaṃ;
Appakampi kataṃ deyyaṃ, puññaṃ hoti mahapphalaṃ.
Behold, Mātali, this wonderful and amazing fruit of kamma! Merit made from even a small gift has great fruit.
Này Mātali, hãy xem quả báo của nghiệp này thật kỳ diệu, thật phi thường! Dù vật dâng cúng nhỏ bé, phước báu tạo ra lại có quả lớn.
804.
804.
804.
‘‘Natthi citte pasannamhi, appakā nāma dakkhiṇā;
Tathāgate vā sambuddhe, atha vā tassa sāvake.
When the mind is serene, there is no offering that can be called small, whether it is to the Tathāgata, the Sambuddha, or to his disciple.
Khi tâm đã tịnh tín nơi bậc Như Lai, bậc Chánh Đẳng Giác, hoặc nơi vị đệ tử của ngài, thì không có sự cúng dường nào gọi là nhỏ bé.
805.
805.
805.
‘‘Ehi mātali amhepi, bhiyyo bhiyyo mahemase;
Tathāgatassa dhātuyo, sukho puññāna muccayo.
Come, Mātali, let us too, again and again, honor the relics of the Tathāgata. The accumulation of merit brings happiness.
Này Mātali, hãy lại đây, chúng ta hãy cùng nhau tôn kính xá-lợi của Như Lai nhiều hơn nữa. Tích lũy phước báu là nguồn an lạc.
806.
806.
806.
‘‘Tiṭṭhante nibbute cāpi, same citte samaṃ phalaṃ;
Cetopaṇidhihetu hi, sattā gacchanti suggatiṃ.
Whether the Buddha is living or has attained Nibbāna, if the mind is the same, the fruit is the same. Indeed, it is because of the mind's resolve that beings go to a good destination.
Dù (Đức Phật) còn tại thế hay đã nhập Niết-bàn, với tâm bình đẳng, quả báo cũng bình đẳng. Chính nhờ sự định hướng của tâm mà chúng sanh đi đến thiện thú.