Bản dịch
VV 45 — Thiên Cung của Bốn Phụ Nữ
7. Caturitthivimānavatthu
BJT 756“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 757Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 758Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 759Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 760“Tôi đã dâng một nắm bông súng xanh đến vị tỳ khưu đang đi khất thực ở thành phố cao quý Paṇṇakata đáng yêu thuộc vùng cao nguyên của xứ Esika.
BJT 761Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 762Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.” (Người nữ bố thí bông súng xanh)
BJT 763“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 764Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 765Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 766Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 767“Tôi đã dâng một nắm bông sen xanh đến vị tỳ khưu đang đi khất thực ở thành phố cao quý Paṇṇakata đáng yêu thuộc vùng cao nguyên của xứ Esika.
BJT 768Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 769Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.” (Người nữ bố thí bông sen xanh)
BJT 770“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 771Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 772Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 773Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 774“Tôi đã dâng loại cây có rễ màu trắng lá màu xanh mọc ở nước trong hồ đến vị tỳ khưu đang đi khất thực ở thành phố cao quý Paṇṇakata đáng yêu thuộc vùng cao nguyên của xứ Esika.
BJT 775Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 776Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.” (Người nữ bố thí loại cây có rễ trắng)
BJT 777“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 778Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 779Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 780Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 781“Tôi, Sumanā, đã dâng các nụ hoa nhài có màu ngà đến vị tỳ khưu có thiện tâm đang đi khất thực ở thành phố cao quý Paṇṇakata đáng yêu thuộc vùng cao nguyên của xứ Esika.
BJT 782Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 783Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.” (Người nữ bố thí nụ hoa nhài)
Thiên Cung của Bốn Phụ Nữ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
7. Caturitthivimānavatthu
7. The Story of the Mansion of the Four Women
7. Câu chuyện Thiên cung của Bốn Vị Nữ Thiên.
755.
755.
755.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena…pe…vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“With a surpassing complexion… and your complexion illuminates all directions.”
‘Do bởi dung sắc xinh đẹp ... (vân vân) ... và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương trời.’
758.
758.
758.
Sā devatā attamanā…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, delighted… of what kamma this is the fruit.
Vị thiên nữ ấy hoan hỷ ... (vân vân) ... đây là quả của nghiệp nào.
759.
759.
759.
‘‘Indīvarānaṃ hatthakaṃ ahamadāsiṃ, bhikkhuno piṇḍāya carantassa;
Esikānaṃ uṇṇatasmiṃ, nagaravare paṇṇakate ramme.
“I gave a handful of golden cassia flowers to a bhikkhu wandering for alms in the delightful, excellent city of Peṇṇakaṭa, in the high country of the Esikas.”
‘Tôi đã dâng cúng một bó hoa hoàng yến đến vị tỳ khưu đang đi khất thực ở tại thành phố Paṇṇakata khả ái, ở vùng đất cao của xứ Esikā.’
760.
760.
760.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe…vaṇṇo ca me sabbadissā pabhāsatī’’ti.
“Because of that, I have such a complexion… and my complexion illuminates all directions.”
‘Do bởi nghiệp ấy, dung sắc của tôi được như thế này ... (vân vân) ... và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương trời.’
762.
762.
762.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena…pe…vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“With a surpassing complexion… and your complexion illuminates all directions.”
‘Do bởi dung sắc xinh đẹp ... (vân vân) ... và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương trời.’
765.
765.
765.
Sā devatā attamanā…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, delighted… of what kamma this is the fruit.
Vị thiên nữ ấy hoan hỷ ... (vân vân) ... đây là quả của nghiệp nào.
766.
766.
766.
‘‘Nīluppalahatthakaṃ ahamadāsiṃ, bhikkhuno piṇḍāya carantassa;
Esikānaṃ uṇṇatasmiṃ, nagaravare paṇṇakate ramme.
“I gave a handful of blue lotuses to a bhikkhu wandering for alms in the delightful, excellent city of Peṇṇakaṭa, in the high country of the Esikas.”
‘Tôi đã dâng cúng một bó hoa sen xanh đến vị tỳ khưu đang đi khất thực ở tại thành phố Paṇṇakata khả ái, ở vùng đất cao của xứ Esikā.’
767.
767.
767.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe…vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“Because of that, I have such a complexion… and my complexion illuminates all directions.”
‘Do bởi nghiệp ấy, dung sắc của tôi được như thế này ... (vân vân) ... và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương trời.’
769.
769.
769.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena…pe…vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“With a surpassing complexion… and your complexion illuminates all directions.”
‘Do bởi dung sắc xinh đẹp ... (vân vân) ... và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương trời.’
772.
772.
772.
Sā devatā attamanā…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, delighted… of what kamma this is the fruit.
Vị thiên nữ ấy hoan hỷ ... (vân vân) ... đây là quả của nghiệp nào.
773.
773.
773.
‘‘Odātamūlakaṃ haritapattaṃ, udakasmiṃ sare jātaṃ ahamadāsiṃ;
Bhikkhuno piṇḍāya carantassa, esikānaṃ uṇṇatasmiṃ;
Nagaravare paṇṇakate ramme.
“I gave a lotus, white-rooted, green-leaved, and grown in a lake, to a bhikkhu wandering for alms in the delightful, excellent city of Peṇṇakaṭa, in the high country of the Esikas.”
‘Tôi đã dâng cúng (bó hoa sen) có cuống trắng, có lá xanh, sanh ở trong hồ nước đến vị tỳ khưu đang đi khất thực ở tại thành phố Paṇṇakata khả ái, ở vùng đất cao của xứ Esikā.’
774.
774.
774.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe…vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“Because of that, I have such a complexion… and my complexion illuminates all directions.”
‘Do bởi nghiệp ấy, dung sắc của tôi được như thế này ... (vân vân) ... và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương trời.’
776.
776.
776.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena…pe…vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“With a surpassing complexion… and your complexion illuminates all directions.”
‘Do bởi dung sắc xinh đẹp ... (vân vân) ... và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương trời.’
779.
779.
779.
Sā devatā attamanā…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, delighted… of what kamma this is the fruit.
Vị thiên nữ ấy hoan hỷ ... (vân vân) ... đây là quả của nghiệp nào.
780.
780.
780.
‘‘Ahaṃ sumanā sumanassa sumanamakuḷāni, dantavaṇṇāni ahamadāsiṃ;
Bhikkhuno piṇḍāya carantassa, esikānaṃ uṇṇatasmiṃ;
Nagaravare paṇṇakate ramme.
“I, Sumanā, gave jasmine buds the color of ivory to a bhikkhu of good mind who was wandering for alms in the delightful, excellent city of Peṇṇakaṭa, in the high country of the Esikas.”
‘Tôi là Sumanā đã dâng cúng những nụ hoa lài có màu sắc giống như ngà voi đến vị tỳ khưu có tâm hoan hỷ, đang đi khất thực ở tại thành phố Paṇṇakata khả ái, ở vùng đất cao của xứ Esikā.’
781.
781.
781.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe…vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“Because of that, I have such a complexion… and my complexion illuminates all directions.”
‘Do bởi nghiệp ấy, dung sắc của tôi được như thế này ... (vân vân) ... và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương trời.’
Caturitthivimānaṃ sattamaṃ.
The seventh is the Story of the Mansion of the Four Women.
Thiên cung của Bốn Vị Nữ Thiên là (câu chuyện) thứ bảy.