Bản dịch
VV 44 — Thiên Cung Trú Xá
6. Vihāravimānavatthu
BJT 730“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 731Trong khi nàng đây đang nhảy múa, các âm thanh thuộc cõi Trời, làm êm tai, làm thích ý, phát ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
BJT 732Trong khi nàng đây đang nhảy múa, các hương thơm thuộc cõi Trời, là các hương thơm tinh khiết, làm thích ý, tỏa ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
BJT 733Trong khi nàng đang xoay tròn cơ thể, tiếng ngân vang của các vật trang sức ở các bím tóc được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 734Các vòng hoa đeo tai bị gió thổi, bị lay động bởi làn gió, tiếng ngân vang của chúng được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 735Luôn cả những tràng hoa ở trên đầu của nàng là có hương thơm tinh khiết, làm thích ý; giống như cây mañjūsaka, hương thơm (của tràng hoa) thổi đi khắp các phương.
BJT 736Nàng ngửi hương thơm tinh khiết ấy, nàng nhìn thấy hình ảnh không thuộc nhân gian. Hỡi nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 737“Thưa ngài đại đức, ở thành Sāvatthī người bạn gái của tôi đã cho xây dựng ngôi trú xá lớn dành cho Hội Chúng. Tại nơi ấy, sau khi nhìn thấy tòa nhà, được tịnh tín, tôi đã tùy hỷ, và nó là yêu quý đối với tôi.
BJT 738Bởi chính sự tùy hỷ trong sạch ấy của tôi mà tôi đã đạt được Thiên cung tuyệt vời, duyên dáng. Nó di chuyển ở không trung, xung quanh mười sáu do-tuần, nhờ vào thần lực của tôi.
BJT 739Các chỗ ngụ của tôi là những ngôi nhà mái nhọn, được phân chia thành từng phần cân xứng. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng xung quanh một trăm do-tuần.
BJT 740Và ở nơi đây, tôi có các hồ sen được loài cá puthuloma lai vãng, có nước trong sạch, được yên tĩnh, được trải cát bằng vàng.
BJT 741Được che phủ bởi nhiều loại sen khác nhau, được trải rộng với những cây sen trắng, (các hồ sen) làm hài lòng, được lay động bởi làn gió, tự tỏa ra các hương thơm.
BJT 742Bên trong chỗ trú ngụ đã mọc lên nhiều loại cây khác nhau không được gieo trồng như các cây mận đỏ, các cây mít, các cây lá cọ, và các khu rừng dừa.
BJT 743(Thiên cung) được vang vang nhiều loại nhạc cụ khác nhau, được vang động bởi đoàn tiên nữ. Thậm chí người đàn ông nào nhìn thấy tôi ở trong giấc mơ, người ấy cũng được phấn chấn.
BJT 744Thiên cung như thế ấy, tuyệt vời, duyên dáng, đang tỏa sáng khắp mọi phía, được sanh lên từ các nghiệp của tôi; vậy là đủ để thực hiện các việc phước thiện.”
BJT 745“Bởi chính sự tùy hỷ trong sạch ấy của nàng mà nàng đã đạt được Thiên cung tuyệt vời, duyên dáng. Và chính cô nàng nào là người phụ nữ đã dâng cúng vật thí, xin hãy nói về cảnh giới tái sanh của cô ấy. Cô ấy đã được sanh lên ở đâu?”
BJT 746“Thưa ngài đại đức, cô ấy đã là người bạn gái của tôi, là người đã cho xây dựng trú xá lớn dành cho Hội Chúng. Đã nhận thức được Giáo Pháp, cô ấy đã dâng cúng vật thí, và đã được sanh lên ở giữa chư Thiên của cõi Trời Hóa Lạc.
BJT 747(Cô ấy) là người vợ chánh của (Thiên Vương) Sunimmita ấy; quả thành tựu về nghiệp của cô ấy là không thể nghĩ bàn. Về điều mà ngài đã hỏi: ‘Cô ấy đã được sanh lên ở đâu?’ tôi đã trả lời ngài về điều ấy không có sai khác.
BJT 748Chính vì thế, xin ngài hãy khuyến khích luôn cả những người khác rằng: ‘Được phấn chấn, các người hãy dâng cúng các vật thí đến Hội Chúng. Với tâm ý tịnh tín, các người hãy lắng nghe Giáo Pháp. Sự đạt được (trạng thái) con người, (mà các người) đã đạt được, là sự đạt được vô cùng khó khăn.
BJT 749Đạo lộ nào mà bậc có giọng nói của Phạm Thiên, có làn da tựa như vàng, đã thuyết giảng là đứng đầu các đạo lộ. Được phấn chấn, các người hãy dâng cúng các vật thí đến Hội Chúng, là nơi các sự cúng dường có quả báo lớn lao.
BJT 750Tám hạng người nào được các bậc thiện nhân ca ngợi, các vị này là bốn đôi, các vị ấy là các Thinh Văn của đấng Thiện Thệ, xứng đáng được cúng dường; các vật đã được bố thí đến các vị này là có các quả báo lớn lao.
BJT 751Bốn hạng đang thực hành (bốn Đạo) và bốn hạng đã trụ ở Quả vị (bốn Quả), Hội Chúng ấy có bản thể chính trực, có Giới—Định—Tuệ.
BJT 752Đối với những con người đang hiến cúng, đối với các chúng sinh mong mỏi phước báu đang thực hiện phước thiện có liên quan đến việc tái sanh, vật đã được dâng cúng (của họ) đến Hội Chúng là có quả báo lớn lao.
BJT 753Bởi vì Hội Chúng ấy là bao la, đã đi đến sự vĩ đại. Hội Chúng ấy không thể đo lường, tựa như biển cả, đại dương. Chính những vị này là hạng nhất, là các đệ tử của bậc Anh Hùng trong số các nam nhân, là những đấng quang đăng tuyên thuyết Giáo Pháp.
BJT 754Những người nào dâng cúng vật thí xác định dành cho Hội Chúng, sự bố thí của những người ấy là đã khéo được dâng cúng, khéo được hiến dâng, khéo được hiến cúng. Sự cúng dường ấy, đã đi đến Hội Chúng, đã được tạo lập, có quả báo lớn lao, đã được các đấng Hiểu Biết Thế Gian khen ngợi.
BJT 755Những người nào đi lang thang ở thế gian với niềm vui đã được sanh khởi trong khi nhớ lại sự hiến cúng như thế ấy, (những người ấy) sau khi loại bỏ bợn nhơ của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị quở trách, và đi đến địa vị cõi Trời.”
Thiên Cung Trú Xá.
TỤNG PHẨM THỨ NHÌ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Vihāravimānavatthu
6. The Story of the Monastery Mansion
6. Câu chuyện về Thiên cung Tịnh xá
729.
729.
729.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena…pe… osadhī viya tārakā.
With surpassing beauty… like the morning star.
‘Với dung sắc tuyệt vời... (như đã nói)... giống như sao mai.’
730.
730.
730.
‘‘Tassā te naccamānāya, aṅgamaṅgehi sabbaso;
Dibbā saddā niccharanti, savanīyā manoramā.
As you are dancing, from all your major and minor limbs issue forth divine sounds, pleasant to hear and delightful.
‘Khi nàng đang nhảy múa, từ các chi phần của nàng, khắp tất cả, các âm thanh cõi trời, du dương và làm say đắm lòng người, được phát ra.’
731.
731.
731.
‘‘Tassā te naccamānāya, aṅgamaṅgehi sabbaso;
Dibbā gandhā pavāyanti, sucigandhā manoramā.
As you are dancing, from all your major and minor limbs spread divine fragrances, of pure scent and delightful.
‘Khi nàng đang nhảy múa, từ các chi phần của nàng, khắp tất cả, các hương thơm cõi trời, thanh khiết và làm say đắm lòng người, được tỏa ra.’
732.
732.
732.
‘‘Vivattamānā kāyena, yā veṇīsu piḷandhanā;
Tesaṃ suyyati nigghoso, turiye pañcaṅgike yathā.
As you turn your body, the sound of the ornaments on your braids is heard, like that of a five-limbed musical ensemble.
‘Khi thân thể nàng xoay chuyển, những đồ trang sức trên bím tóc của nàng, âm thanh của chúng được nghe thấy, giống như tiếng nhạc ngũ âm.’
733.
733.
733.
‘‘Vaṭaṃsakā vātadhutā, vātena sampakampitā;
Tesaṃ suyyati nigghoso, turiye pañcaṅgike yathā.
Your head-ornaments, shaken and well-agitated by the wind—their sound is heard, like that of a five-limbed musical ensemble.
‘Những đồ trang sức trên tai, được gió thổi lay động, rung chuyển trong gió, âm thanh của chúng được nghe thấy, giống như tiếng nhạc ngũ âm.’
734.
734.
734.
‘‘Yāpi te sirasmiṃ mālā, sucigandhā manoramā;
Vāti gandho disā sabbā, rukkho mañjūsako yathā.
The garland on your head, of pure scent and delightful—its fragrance wafts to all directions, like that of the Mañjūsaka tree.
‘Và vòng hoa trên đầu nàng, hương thơm thanh khiết và làm say đắm lòng người, hương thơm lan tỏa khắp mọi phương, giống như cây Mañjūsaka.’
735.
735.
735.
‘‘Ghāyase taṃ sucigandhaṃ, rūpaṃ passasi amānusaṃ;
Devate pucchitācikkha, kissa kammassidaṃ phala’’nti.
You experience this pure fragrance and you see this superhuman form. O devatā, being asked, please tell me: of what kamma is this the fruit?
‘Nàng ngửi được hương thơm thanh khiết ấy, thấy được hình sắc phi nhân. Hỡi thiên nữ, được hỏi, xin hãy cho biết, đây là quả của nghiệp gì?’
736.
736.
736.
‘‘Sāvatthiyaṃ mayhaṃ sakhī bhadante, saṅghassa kāresi mahāvihāraṃ;
Tatthappasannā ahamānumodiṃ, disvā agārañca piyañca metaṃ.
Venerable Sir, in Sāvatthī my friend had a great monastery built for the benefit of the Sangha. There, with a confident mind, I rejoiced upon seeing that building and that dear act of donation.
‘Bạch ngài, ở thành Sāvatthī, bạn của con đã cho xây dựng một đại tịnh xá cho Tăng đoàn. Ở đó, với lòng hoan hỷ, con đã tùy hỷ, sau khi thấy ngôi tịnh xá và sự cúng dường thân thương này.’
737.
737.
737.
‘‘Tāyeva me suddhanumodanāya, laddhaṃ vimānabbhutadassaneyyaṃ;
Samantato soḷasayojanāni, vehāyasaṃ gacchati iddhiyā mama.
Just by that pure act of rejoicing, I obtained a mansion, wondrous and beautiful to behold. It measures sixteen yojanas all around and travels through the sky by my spiritual power.
‘Chỉ nhờ sự tùy hỷ trong sạch ấy, con đã được một thiên cung kỳ diệu, đáng chiêm ngưỡng. Xung quanh rộng mười sáu do tuần, nó di chuyển trên không trung nhờ thần lực của con.’
738.
738.
738.
‘‘Kūṭāgārā nivesā me, vibhattā bhāgaso mitā;
My abodes are halls with pinnacles, divided and proportioned into sections;
‘Các lâu đài là nơi ở của con, được phân chia thành các phần cân đối;’
Daddallamānā ābhanti, samantā satayojanaṃ.
Blazing greatly, they shine all around for a hundred yojanas.
tỏa sáng rực rỡ, chiếu sáng khắp xung quanh một trăm do tuần.’
739.
739.
739.
‘‘Pokkharañño ca me ettha, puthulomanisevitā;
Acchodakā † vippasannā, soṇṇavālukasanthatā.
Here in my mansion are lotus ponds, frequented by great shoals of celestial fish, with clear, exceptionally serene water, and strewn with golden sand.
‘Và ở đây, con có những hồ sen, nơi các loài cá lớn lui tới; nước trong vắt, cực kỳ thanh tịnh, đáy trải cát vàng.’
740.
740.
740.
‘‘Nānāpadumasañchannā, puṇḍarīkasamotatā †;
Surabhī sampavāyanti, manuññā māluteritā.
They are covered with various lotuses and overspread with white lotuses. From them, delightful, fragrant scents, stirred by the breeze, waft forth.
‘Được bao phủ bởi nhiều loại hoa sen, trải rộng với hoa sen trắng; hương thơm ngát, dễ chịu, do gió lay động, tỏa ra.’
741.
741.
741.
‘‘Jambuyo panasā tālā, nāḷikeravanāni ca;
Antonivesane jātā, nānārukkhā aropimā.
Rose-apple, jackfruit, and palmyra palm trees, and coconut groves have grown near my mansion—various unplanted trees.
‘Cây diêm phù, mít, thốt nốt, và những rặng dừa; mọc lên trong khuôn viên, nhiều loại cây khác nhau, không cần gieo trồng.’
742.
742.
742.
‘‘Nānātūriyasaṅghuṭṭhaṃ, accharāgaṇaghositaṃ;
Yopi maṃ supine passe, sopi vitto siyā naro.
Should any person see in a dream this mansion, which resounds with the sound of various musical instruments and is acclaimed by hosts of celestial nymphs, that person too would be delighted.
‘Vang dội với nhiều loại nhạc cụ, được ca tụng bởi các nhóm tiên nữ; người nào thấy được (thiên cung) này trong giấc mơ, người ấy cũng sẽ vui mừng.’
743.
743.
743.
‘‘Etādisaṃ abbhutadassaneyyaṃ, vimānaṃ sabbasopabhaṃ;
Mama kammehi nibbattaṃ, alaṃ puññāni kātave’’ti.
This mansion of such a nature—wondrous, lovely to behold, and radiant all around—has arisen from my kamma. Therefore, it is most fitting to perform meritorious deeds.
‘Một thiên cung như thế, kỳ diệu, đáng chiêm ngưỡng, tỏa sáng khắp nơi; được tạo ra bởi nghiệp của con, thật đáng để làm các công đức.’
744.
744.
744.
‘‘Tāyeva te suddhanumodanāya, laddhaṃ vimānabbhutadassaneyyaṃ;
Yā ceva sā dānamadāsi nārī, tassā gatiṃ brūhi kuhiṃ uppannā † sā’’ti.
O devatā, it is by that very pure appreciative joy that you have obtained this wondrous and lovely-to-behold mansion. As for that woman who gave the gift, tell of her destination. Where has she been reborn?
‘Chỉ nhờ sự tùy hỷ trong sạch ấy, nàng đã được một thiên cung kỳ diệu, đáng chiêm ngưỡng. Còn người phụ nữ đã cúng dường, hãy cho biết cảnh giới của bà ấy, bà ấy đã tái sanh ở đâu?’
745.
745.
745.
‘‘Yā sā ahu mayhaṃ sakhī bhadante, saṅghassa kāresi mahāvihāraṃ;
Viññātadhammā sā adāsi dānaṃ, uppannā nimmānaratīsu devesu.
Venerable Sir, that woman was my friend. Having understood the Dhamma, she had a great monastery built for the benefit of the Sangha and gave gifts. She has been reborn among the Nimmānaratī devas.
‘Bạch ngài, người ấy là bạn của con, đã cho xây dựng một đại tịnh xá cho Tăng đoàn. Người đã liễu tri Chánh pháp, đã thực hiện việc cúng dường, đã tái sanh vào cõi trời Hóa Lạc Thiên.’
746.
746.
746.
‘‘Pajāpatī tassa sunimmitassa, acintiyā kammavipākā tassa;
Yametaṃ pucchasi kuhiṃ uppannā † sāti, taṃ te viyākāsiṃ anaññathā ahaṃ.
She is the consort of the deva-king Sunimmita. The result of her kamma is inconceivable. The question you ask, ‘Where has she been reborn?’, that I have explained to you truthfully.
‘Bà là phối ngẫu của vua trời Sunimmita, quả báo của nghiệp của bà thật không thể nghĩ bàn. Câu hỏi mà ngài đã hỏi: ‘Bà ấy đã tái sanh ở đâu?’, con đã giải đáp cho ngài một cách xác thực.’
747.
747.
747.
‘‘Tenahaññepi samādapetha, saṅghassa dānāni dadātha vittā;
Dhammañca suṇātha pasannamānasā, sudullabho laddho manussalābho.
For that reason, you should also establish others in giving. With delighted minds, give gifts to the Sangha. With confident minds, listen to the Dhamma. You have obtained the gain of a human existence, which is very difficult to obtain.
‘Vì vậy, hãy khuyến khích cả những người khác, hãy hoan hỷ cúng dường đến Tăng đoàn; với tâm thanh tịnh, hãy lắng nghe Chánh pháp, thân người đã đạt được thật vô cùng khó được.’
748.
748.
748.
‘‘Yaṃ maggaṃ maggādhipatī adesayi †, brahmassaro kañcanasannibhattaco;
Saṅghassa dānāni dadātha vittā, mahapphalā yattha bhavanti dakkhiṇā.
The Lord of the Path, endowed with a voice like Brahmā and skin like the hue of pure gold, has taught the path. Give gifts with delighted minds to the Sangha, wherein offerings become of great fruit.
‘Con đường mà bậc Lãnh đạo của các con đường đã chỉ dạy, vị có giọng nói như Phạm thiên, làn da như vàng ròng; hãy hoan hỷ cúng dường đến Tăng đoàn, nơi mà các vật cúng dường mang lại quả lớn.’
749.
749.
749.
† ‘‘Ye puggalā aṭṭha sataṃ pasatthā, cattāri etāni yugāni honti;
Te dakkhiṇeyyā sugatassa sāvakā, etesu dinnāni mahapphalāni.
Those eight individuals who are praised by the good ones—these are the four pairs. They, the disciples of the Sugata, are worthy of offerings. Gifts given to them are of great fruit.
‘Tám hạng người được các bậc thiện nhân ca ngợi, đó là bốn đôi. Họ là những vị đệ tử của bậc Thiện Thệ, xứng đáng nhận vật cúng dường, những gì được cúng dường đến họ đều có quả lớn.’
750.
750.
750.
† ‘‘Cattāro ca paṭipannā, cattāro ca phale ṭhitā;
Esa saṅgho ujubhūto, paññāsīlasamāhito.
Four are practicing for the attainment of the fruit, and four are established in the fruit. This Sangha has become upright, endowed with wisdom and virtue.
‘Bốn vị đang thực hành, và bốn vị đã trú trong quả; đây là Tăng đoàn, những vị đã trở nên ngay thẳng, vững vàng trong trí tuệ và giới hạnh.’
751.
751.
751.
† ‘‘Yajamānānaṃ manussānaṃ, puññapekkhāna pāṇinaṃ;
Karotaṃ opadhikaṃ puññaṃ, saṅghe dinnaṃ mahapphalaṃ.
For humans who are donors, for beings who desire merit, for those performing merit connected with the substrates of existence, a gift given to the Sangha is of great fruit.
‘Đối với những người cúng dường, những chúng sanh tìm cầu phước báu; khi họ làm công đức liên quan đến các uẩn, những gì được cúng dường đến Tăng đoàn đều có quả lớn.’
752.
752.
752.
† ‘‘Eso hi saṅgho vipulo mahaggato, esappameyyo udadhīva sāgaro;
Etehi seṭṭhā naravīrasāvakā, pabhaṅkarā dhammamudīrayanti †.
For this Sangha is extensive and has reached a great state; it is immeasurable, like the ocean. These excellent disciples of the Hero among Men are creators of light; they expound the Dhamma.
‘Vì Tăng đoàn này rộng lớn, cao cả, không thể đo lường được, như đại dương, như biển cả; những vị này là những đệ tử cao quý của bậc Anh hùng, những người tạo ra ánh sáng, họ tuyên thuyết Chánh pháp.’
753.
753.
753.
† ‘‘Tesaṃ sudinnaṃ suhutaṃ suyiṭṭhaṃ, ye saṅghamuddissa dadanti dānaṃ;
Sā dakkhiṇā saṅghagatā patiṭṭhitā, mahapphalā lokavidūna † vaṇṇitā.
For those beings who give a gift directed to the Sangha, for them it is well-given, well-offered, and well-sacrificed. That offering, having gone to the Sangha and being established in the Sangha, is of great fruit and is praised by the Knower of the Worlds.
‘Đối với những ai cúng dường hướng đến Tăng đoàn, sự cúng dường của họ là khéo dâng, khéo cúng, khéo tế tự. Vật cúng dường ấy, hướng đến Tăng đoàn, được thiết lập (trong Tăng đoàn), có quả lớn, được các bậc Thông hiểu Thế gian tán thán.’
754.
754.
754.
‘‘Etādisaṃ yaññamanussarantā, ye vedajātā vicaranti loke;
Vineyya maccheramalaṃ samūlaṃ, aninditā saggamupenti ṭhāna’’nti.
Those in the world who live and move about, recollecting such a meritorious deed with joy arisen in them—having dispelled the stain of stinginess together with its root, they, being unblamed, approach the heavenly realm.
‘Những ai trong đời, với niềm hân hoan sanh khởi, đi lại và tùy niệm về sự cúng dường như vậy; sau khi đã loại trừ vết nhơ của sự keo kiệt cùng với gốc rễ, không bị chê trách, họ sẽ đến được cõi trời.’
Vihāravimānaṃ chaṭṭhaṃ.
The sixth, the Vihāra Mansion, is concluded.
Chuyện Thiên cung Tịnh xá là thứ sáu (đã kết thúc).
Bhāṇavāraṃ dutiyaṃ niṭṭhitaṃ.
The second recitation section is concluded.
Phẩm Tụng thứ nhì được chấm dứt.