Bản dịch
VV 43 — Thiên Cung của Người Nữ Bố Thí Cháo Chua
5. Kañjikadāyikāvimānavatthu
BJT 720“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 721Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 722Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 723Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 724“Ở Bārāṇasī, tôi đã dâng đến đức Phật, đấng thân quyến của mặt trời, món cháo chua nấu chung với táo và đã được gia vị với dầu ăn.
BJT 725Với tâm ý thanh tịnh ở con người chính trực, tôi đã dâng cúng (món cháo) đã được trộn với loại tiêu dài, với củ tỏi, và với (rễ cỏ) lāmañjaka.
BJT 726Người phụ nữ nào hành xử vị thế chánh hậu của đức vua Chuyển Luân, có vẻ kiều diễm ở toàn bộ các phần cơ thể, và được xem là hoàn hảo đối với người chồng, (cũng) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự dâng cúng cháo chua này.
BJT 727Một trăm con voi, một trăm con ngựa, một trăm xe lừa kéo, một trăm ngàn thiếu nữ có các bông hoa tai bằng ngọc ma-ni đã được trau chuốt, (cũng) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự dâng cúng cháo chua này.
BJT 728Một trăm con voi giống Hi-mã-lạp, có ngà như gọng xe, vững chãi, có chuông vàng, là loài long tượng có trang phục với yên cương bằng vàng, (cũng) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự dâng cúng cháo chua này.
BJT 729Người nào có thể hành xử vương quyền ở nơi đây, thậm chí đối với bốn châu lục, (cũng) không giá trị bằng một phần mười sáu của sự dâng cúng cháo chua này.”
Thiên Cung của Người Nữ Bố Thí Cháo Chua.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
‘‘Ahaṃ andhakavindamhi, buddhassādiccabandhuno;
Adāsiṃ kolasampākaṃ, kañjikaṃ teladhūpitaṃ.
In Andhakavinda, to the Buddha, the kinsman of the sun, I gave sour gruel, well-cooked with jujube fruit and seasoned with oil.
"Tại Andhakavinda, con đã dâng cúng đến đức Phật, bậc Thân Thuộc của mặt trời, món cháo chua được nấu với táo ta và nêm dầu."
724.
724.
724.
‘‘Pipphalyā lasuṇena ca, missaṃ lāmañjakena ca;
Adāsiṃ ujubhūtasmiṃ †, vippasannena cetasā.
Mixed with long pepper, garlic, and cumin, I gave it to the one who is upright, with an especially serene mind.
"Con đã dâng cúng món ấy, được trộn với tiêu lốt, tỏi, và thì là, đến bậc Ngay Thẳng, với tâm vô cùng trong sạch."
725.
725.
725.
‘‘Yā mahesittaṃ kāreyya, cakkavattissa rājino;
Nārī sabbaṅgakalyāṇī, bhattu cānomadassikā;
Ekassa kañjikadānassa, kalaṃ nāgghati soḷasiṃ.
A woman, beautiful in all her limbs and perfectly pleasing to her husband, who might become the chief queen of a universal monarch, is not worth a sixteenth part of a single gift of sour gruel.
"Một người phụ nữ toàn mỹ, được chồng yêu quý, dù có trở thành hoàng hậu của một vị Chuyển Luân Vương, cũng không bằng một phần mười sáu của việc dâng cúng một lần cháo chua."
726.
726.
726.
‘‘Sataṃ nikkhā sataṃ assā, sataṃ assatarīrathā;
Sataṃ kaññāsahassāni, āmuttamaṇikuṇḍalā;
Ekassa kañjikadānassa, kalaṃ nāgghanti soḷasiṃ.
One hundred nikkhas of gold, one hundred horses, one hundred chariots drawn by she-mules, and one hundred thousand maidens wearing jeweled earrings—all these are not worth a sixteenth part of a single gift of sour gruel.
"Một trăm ngàn đồng tiền vàng, một trăm ngàn con ngựa, một trăm ngàn cỗ xe do lừa kéo, một trăm ngàn thiếu nữ đeo hoa tai bằng ngọc, tất cả cũng không bằng một phần mười sáu của việc dâng cúng một lần cháo chua."
727.
727.
727.
‘‘Sataṃ hemavatā nāgā, īsādantā urūḷhavā;
Suvaṇṇakacchā mātaṅgā, hemakappanavāsasā;
Ekassa kañjikadānassa, kalaṃ nāgghanti soḷasiṃ.
One hundred elephants from the Himavanta—with tusks like plough-shafts, great in strength, of the Mātaṅga breed, with golden girth-bands and adorned with golden trappings—even these are not worth a sixteenth part of a single gift of sour gruel.
"Một trăm con voi từ Hy-mã-lạp, với ngà cong như gọng cày, mạnh mẽ, thuộc giống mātaṅga, đeo đai vàng và trang sức vàng, cũng không bằng một phần mười sáu của việc dâng cúng một lần cháo chua."
728.
728.
728.
‘‘Catunnamapi dīpānaṃ, issaraṃ yodha kāraye;
Ekassa kañjikadānassa, kalaṃ nāgghati soḷasi’’nti.
Whoever in this world might exercise sovereignty over the four continents, even he is not worth a sixteenth part of a single gift of sour gruel.
‘Vị nào ở đây thực hiện được quyền cai trị cả bốn châu thiên hạ, (sự cai trị ấy) cũng không bằng một phần mười sáu của (phước báu) của việc bố thí một phần cháo gạo.’
Kañjikadāyikāvimānaṃ pañcamaṃ.
The fifth is the Mansion of the Female Donor of Sour Gruel.
Thiên cung của thí chủ nữ cúng dường cháo gạo, câu chuyện thứ năm.