Bản dịch
VV 42 — Thiên Cung của Alomā
4. Alomavimānavatthu
BJT 712“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 713Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 714Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 715Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 716“Ở Bārāṇasī, được tịnh tín, tôi đã tự tay dâng đến đức Phật, đấng thân quyến của mặt trời, miếng bánh kem khô khan.
BJT 717Hãy nhìn xem quả báo của miếng bánh kem khô khan, không có muối. Sau khi nhìn thấy nàng Alomā được hạnh phúc, người nào sẽ không làm việc phước thiện?
BJT 718Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 719Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Alomā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Alomavimānavatthu
4. The Story of the Aloma Mansion
4. Câu chuyện về Thiên cung Aloma
711.
711.
711.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena, yā tvaṃ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā, osadhī viya tārakā.
O devatā, you who stand with surpassing beauty, illuminating all directions, like the morning star.
"Này vị thiên nữ, ngài đứng đó với dung sắc tuyệt vời, tỏa sáng khắp mọi phương trời, giống như sao mai."
712.
712.
712.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo…pe…
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
By what is your complexion like this? … and why does your complexion illuminate all directions?
"Do đâu ngài có dung sắc như vậy... (v.v.)... và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương trời?"
714.
714.
714.
Sā devatā attamanā…pe… yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, with a delighted mind… explained of which kamma this is the fruit.
Vị thiên nữ ấy, với lòng hoan hỷ... (v.v.)... đây là quả của nghiệp nào.
715.
715.
715.
‘‘Ahañca bārāṇasiyaṃ, buddhassādiccabandhuno;
Adāsiṃ sukkhakummāsaṃ, pasannā sehi pāṇibhi.
In Bārāṇasī, with a confident mind, I gave dry barley-dough to the Buddha, the kinsman of the sun, with my own hands.
"Và tại thành Bārāṇasī, với tâm tín thành, con đã tự tay dâng cúng bánh bột lúa mạch khô đến đức Phật, bậc Thân Thuộc của mặt trời."
716.
716.
716.
‘‘Sukkhāya aloṇikāya ca, passa phalaṃ kummāsapiṇḍiyā;
Alomaṃ sukhitaṃ disvā, ko puññaṃ na karissati.
Behold the fruit of a lump of barley-dough, dry and without salt. Having seen me, Aloma, so happy, who would not perform meritorious deeds?
"Xin hãy xem quả của viên bánh bột lúa mạch, vừa khô lại không có muối. Khi thấy con, Aloma, được an lạc, ai lại không làm phước?"
717.
717.
717.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe… vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
Through that, my complexion is like this… and my complexion illuminates all directions.
"Do nghiệp ấy, con có dung sắc như vậy... (v.v.)... và dung sắc của con tỏa sáng khắp mọi phương trời."
Alomavimānaṃ catutthaṃ.
The fourth is the Aloma Mansion.
Thiên cung Aloma, câu chuyện thứ tư.