Bản dịch
VV 34 — Thiên Cung Tỏa Sáng Rực Rỡ
6. Daddallavimānavatthu
BJT 620“Này cô nàng có danh tiếng, trong lúc tỏa sáng rực rỡ nhờ vào làn da và danh tiếng, nàng sáng chói vượt trội tất cả chư Thiên ở cõi Trời Ba Mươi Ba về phương diện sắc đẹp.
BJT 621Tôi không biết rõ về việc gặp gỡ (trong quá khứ); đây là lần gặp gỡ đầu tiên. Từ tập thể nào nàng đã đi đến? Nàng hãy chuyện trò với tôi theo tên gọi (Bhaddā).”
BJT 622“Này Bhaddā, trong thời quá khứ ở cảnh giới loài người, tôi đã là Subhaddā. Tôi đã là em gái, và là người vợ có chung chồng với chị.
BJT 623Tôi đây, do sự tan rã của thân xác, đã chết từ nơi ấy, đã được giải thoát; tôi đã được sanh lên cộng trú với chư Thiên cõi Hóa Lạc.”
BJT 624“Các chúng sinh đã tạo được nhiều việc tốt đẹp (có phước báu lớn lao) đi đến với chư Thiên ấy. Này Subhaddā, nàng hãy thuật lại việc sanh ra của bản thân ở nơi chư Thiên ấy.
BJT 625Bằng cách nào, bởi lý do nào, hoặc đã được ai chỉ dạy, do sự bố thí thuộc loại thế nào, với sự thọ trì tốt lành nào mà nàng có được danh tiếng?
BJT 626Nàng đã đạt được danh tiếng như thế này. Nàng đã đạt đến trạng thái đặc biệt, lớn lao. Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 627“Được tịnh tín, trước đây tôi đã tự tay dâng cúng vật bố thí chỉ là tám phần đồ ăn khất thực đến hội chúng xứng đáng được cúng dường.
BJT 628Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 629Thưa vị nữ Thiên nhân có đại oai lực, tôi trình bày cho chị về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
BJT 630“Được tịnh tín, tôi đã tự tay chuẩn bị cơm nước cho các vị tỳ khưu đã được thu thúc, có sự thực hành Phạm hạnh, nhiều hơn so với nàng. Sau khi dâng cúng nhiều hơn nàng, tôi đã đi đến tập thể thấp kém.
BJT 631Sau khi dâng cúng ít hơn tôi, như thế nào mà nàng đã đạt đến trạng thái đặc biệt, lớn lao? Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 632“Trước đây, tôi đã gặp vị tỳ khưu đáng được tôn kính. Tôi đã thỉnh mời vị Revata ấy về bữa thọ trai với bản thân vị ấy là người thứ tám.
BJT 633Quan tâm đến lợi ích của tôi, vị Revata ấy, vì lòng thương tưởng, đã nói với tôi rằng: ‘Hãy dâng cúng ở Hội Chúng;’ tôi đã làm theo lời nói của vị ấy.
BJT 634Việc cúng dường ấy được dâng đến Hội Chúng (sẽ) được thiết lập ở vô lượng; việc bố thí ấy (nếu) được dâng cúng ở các cá nhân thì (sẽ) không có quả báo lớn lao cho chị.”
BJT 635“Ngay giờ đây, tôi biết rằng vật được dâng cúng ở Hội Chúng có quả báo lớn lao. Sau khi đi đến bản thể loài người, tôi đây, với sự ân cần, với sự bỏn xẻn đã được xa lìa, tôi sẽ dâng cúng các vật thí ở Hội Chúng lần này đến lần khác, không bị xao lãng.”
BJT 636“Này Bhaddā, Thiên nhân ấy là ai mà trò chuyện với nàng, và sáng chói vượt trội tất cả chư Thiên ở cõi Trời Ba Mươi Ba về phương diện sắc đẹp?”
BJT 637“Thưa vị Chúa của chư Thiên, trong thời quá khứ khi là con người ở cảnh giới loài người, nàng đã là người vợ có chung chồng với thiếp và còn là người em gái của thiếp. Sau khi dâng cúng các vật thí ở Hội Chúng, nàng chói sáng với phước báu đã tạo.”
BJT 638“Này Bhaddā, người em gái trong thời quá khứ chói sáng hơn nàng bởi lý do nàng ấy đã tạo lập sự cúng dường ở Hội Chúng vô lượng.
BJT 639Bởi vì, ở núi Gijjhakūṭa, ta đã hỏi đức Phật về quả thành tựu của sự san sẻ, về vật được dâng cúng ở nơi nào thì có quả báo lớn lao.
BJT 640Đối với những con người đang hiến cúng, đối với các chúng sinh mong mỏi phước báu đang thực hiện phước thiện có liên quan đến việc tái sanh, vật được dâng cúng ở nơi nào thì có quả báo lớn lao.
BJT 641Đức Phật, biết về quả báo của nghiệp ở từng trường hợp, đã giải thích điều ấy cho ta về quả thành tựu của sự san sẻ, về vật được dâng cúng ở nơi nào thì có quả báo lớn lao.
BJT 642Bốn hạng đã thực hành (bốn Đạo) và bốn hạng đã trụ ở Quả vị (bốn Quả), Hội Chúng ấy có bản thể chính trực, có Giới—Định—Tuệ.
BJT 643Đối với những con người đang hiến cúng, đối với các chúng sinh mong mỏi phước báu đang thực hiện phước thiện có liên quan đến việc tái sanh, vật được dâng cúng ở Hội Chúng thì có quả báo lớn lao.
BJT 644Bởi vì Hội Chúng ấy là bao la, đã đi đến sự vĩ đại. Hội Chúng ấy không thể đo lường, tựa như biển cả, đại dương. Chính những vị này là hạng nhất, là các đệ tử của bậc Anh Hùng trong số các nam nhân, là những đấng quang đăng tuyên thuyết Giáo Pháp.
BJT 645Những người nào dâng cúng vật thí xác định dành cho Hội Chúng, sự bố thí của những người ấy là đã khéo được dâng cúng, khéo được hiến dâng, khéo được hiến cúng. Sự cúng dường ấy, đã đi đến Hội Chúng, đã được tạo lập, có quả báo lớn lao, đã được các đấng Hiểu Biết Thế Gian khen ngợi.
BJT 646Những người nào đi lang thang ở thế gian với niềm vui đã được sanh khởi trong khi nhớ lại sự hiến cúng như thế ấy, (những người ấy) sau khi loại bỏ bợn nhơ của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị quở trách, và đi đến địa vị cõi Trời.”
Thiên Cung Tỏa Sáng Rực Rỡ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Daddallavimānavatthu
6. The Story of the Radiant Mansion
6. Thiên Cung Sự Rực Rỡ
619.
619.
619.
‘‘Daddallamānā † vaṇṇena, yasasā ca yasassinī;
Sabbe deve tāvatiṃse, vaṇṇena atirocasi.
“Shining with beauty, and glorious with your retinue, O renowned one, you outshine all the devas in Tāvatiṃsa with your beauty.”
‘Này vị thiên nữ danh tiếng, nàng rực rỡ với sắc đẹp và danh vọng; nàng chiếu sáng vượt trội hơn tất cả chư thiên ở cõi Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsa) bằng sắc đẹp của mình.’
620.
620.
620.
‘‘Dassanaṃ nābhijānāmi, idaṃ paṭhamadassanaṃ;
Kasmā kāyā nu āgamma, nāmena bhāsase mama’’nti.
“I do not recognize you; this is the first time I have seen you. From what divine host have you come that you address me by name?”
‘Tôi không nhận ra đã từng gặp, đây là lần gặp đầu tiên. Nàng từ cõi nào đến đây, mà lại gọi tên của tôi?’
621.
621.
621.
‘‘Ahaṃ bhadde subhaddāsiṃ, pubbe mānusake bhave;
Sahabhariyā ca te āsiṃ, bhaginī ca kaniṭṭhikā.
“Good lady, I was Subhaddā in a former human existence. I was your co-wife and your younger sister.”
‘Này hiền tỷ Bhaddā, tôi là Subhaddā ở kiếp người trước đây. Tôi đã từng là vợ bé của chồng chị, và cũng là em gái của chị.’
622.
622.
622.
‘‘Sā ahaṃ kāyassa bhedā, vippamuttā tato cutā;
Nimmānaratīnaṃ devānaṃ, upapannā sahabyata’’nti.
“I am she. At the breakup of the body, I passed away from that existence, liberated, and have been reborn into the company of the devas Who Delight in Creation.”
‘Chính tôi, sau khi thân hoại mạng chung, đã được giải thoát khỏi nơi ấy, và đã được sanh làm bạn đồng hành của chư thiên ở cõi Hóa Lạc Thiên (Nimmānaratī).’
623.
623.
623.
‘‘Pahūtakatakalyāṇā, te deve yanti pāṇino;
Yesaṃ tvaṃ kittayissasi, subhadde jātimattano.
“Beings who have performed abundant good deeds go to those devas, among whom you, O Subhaddā, declare your own birth.”
‘Này Subhaddā, những chúng sanh đã làm nhiều điều thiện lành mới được sanh về cõi trời ấy, nơi mà nàng kể rằng mình đã sanh ra.’
624.
624.
624.
‘‘Atha † tvaṃ kena vaṇṇena, kena vā anusāsitā;
Kīdiseneva dānena, subbatena yasassinī.
“By what cause, or by whose instruction, by what sort of giving or good conduct have you become so glorious,
‘Vậy thì, do nguyên nhân nào, hoặc do ai chỉ dạy, do sự bố thí như thế nào, do thiện hạnh nào mà nàng có được danh tiếng như vậy?’
625.
625.
625.
‘‘Yasaṃ etādisaṃ pattā, visesaṃ vipulamajjhagā;
Devate pucchitācikkha, kissa kammassidaṃ phala’’nti.
“having attained such renown and reached this vast distinction? O goddess, being asked, please declare: of what kamma is this the fruit?”
‘Này thiên nữ, nàng đã đạt được danh tiếng như thế, đã chứng đắc được sự thù thắng rộng lớn. Khi được hỏi, xin hãy cho tôi biết, đây là quả của nghiệp nào?’
626.
626.
626.
‘‘Aṭṭheva piṇḍapātāni, yaṃ dānaṃ adadaṃ pure;
Dakkhiṇeyyassa saṅghassa, pasannā sehi pāṇibhi.
“It was a gift of just eight portions of almsfood that I formerly gave to the Saṅgha worthy of offerings, with a confident mind and with my own hands.”
Thuở trước, với tâm tín thành, con đã tự tay dâng cúng tám phần vật thực đến Tăng đoàn, là bậc đáng được cúng dường.
627.
627.
627.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe…vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“Because of that, a complexion such as this has arisen for me…pe…and my complexion illuminates all directions.”
Do (nghiệp lành) ấy, dung sắc của con được như thế này... và dung sắc của con tỏa sáng khắp mọi phương trời.
629.
629.
629.
‘‘Ahaṃ tayā bahutare bhikkhū, saññate brahmacārayo †;
Tappesiṃ annapānena, pasannā sehi pāṇibhi.
“With a confident mind and with my own hands, I satisfied with food and drink far more bhikkhus than you—those who are restrained, who lead the holy life.”
Con đã với tâm tín thành, tự tay dâng cúng vật thực và đồ uống làm cho hài lòng các vị Tỳ-khưu, là những bậc sống phạm hạnh, có phòng hộ, (số lượng) nhiều hơn chị.
630.
630.
630.
‘‘Tayā bahutaraṃ datvā, hīnakāyūpagā ahaṃ †;
Kathaṃ tvaṃ appataraṃ datvā, visesaṃ vipulamajjhagā;
Devate pucchitācikkha, kissa kammassidaṃ phala’’nti.
“Though I gave much more than you, I have been reborn in an inferior celestial realm. How is it that you, having given less, have attained such vast distinction? O goddess, being asked, please declare: of what kamma is this the fruit?”
Con đã bố thí nhiều hơn chị, (nhưng) lại sanh vào cõi thấp kém. Vì sao chị bố thí ít hơn, lại đạt được sự thù thắng và to lớn? Thưa Thiên nữ, con xin hỏi, xin hãy cho biết, đây là quả của nghiệp gì?
631.
631.
631.
‘‘Manobhāvanīyo bhikkhu, sandiṭṭho me pure ahu;
Tāhaṃ bhattena † nimantesiṃ, revataṃ attanaṭṭhamaṃ.
“Formerly, a bhikkhu who inspires confidence in the heart, Revata, was an acquaintance whom I had seen. I invited that bhikkhu, Revata, for a meal, as the eighth one.”
Thuở trước, có một vị Tỳ-khưu làm cho tâm hoan hỷ, là người con đã từng gặp. Con đã thỉnh mời vị Tỳ-khưu Revata ấy, là người thứ tám, dùng vật thực.
632.
632.
632.
‘‘So me atthapurekkhāro, anukampāya revato;
Saṅghe dehīti maṃvoca, tassāhaṃ vacanaṃ kariṃ.
“That Revata, who had my welfare as his foremost concern, said to me out of compassion: ‘Give that offering to the Saṅgha.’ I followed his word.”
Vị Revata ấy, vì lợi ích cho con, vì lòng bi mẫn, đã bảo con rằng: ‘Hãy dâng cúng đến Tăng đoàn.’ Và con đã làm theo lời của ngài.
633.
633.
633.
‘‘Sā dakkhiṇā saṅghagatā, appameyye patiṭṭhitā;
Puggalesu tayā dinnaṃ, na taṃ tava mahapphala’’nti.
“That offering, directed to the Saṅgha, was established in the immeasurable. What you gave to individuals, that gift of yours is not of great fruit.”
Sự cúng dường đó đến Tăng đoàn, được an lập nơi (phước điền) vô lượng. Chị đã dâng cúng cho các cá nhân, sự bố thí đó của chị không có quả lớn.
634.
634.
634.
‘‘Idānevāhaṃ jānāmi, saṅghe dinnaṃ mahapphalaṃ;
Sāhaṃ gantvā manussattaṃ, vadaññū vītamaccharā;
Saṅghe dānāni dassāmi †, appamattā punappuna’’nti.
“Only now do I know that a gift to the Saṅgha is of great fruit. That I, having returned to the human state, being generous, free from stinginess, and diligent, shall give gifts to the Saṅgha again and again.”
Chính bây giờ con mới biết, sự cúng dường đến Tăng đoàn có quả lớn. Khi trở lại làm người, con sẽ là người rộng rãi, không còn keo kiệt, không phóng dật, sẽ luôn luôn cúng dường đến Tăng đoàn.
635.
635.
635.
‘‘Kā esā devatā bhadde, tayā mantayate saha;
Sabbe deve tāvatiṃse, vaṇṇena atirocatī’’ti.
“O Bhaddā, who is this goddess that converses with you and outshines all the devas in Tāvatiṃsa with her complexion?”
Này hiền nữ Bhaddā, vị Thiên nữ nào đang trò chuyện cùng ngươi vậy? Nàng tỏa sáng vượt trội hơn tất cả chư Thiên ở cõi Ba Mươi Ba về dung sắc.
636.
636.
636.
‘‘Manussabhūtā devinda, pubbe mānusake bhave;
Sahabhariyā ca me āsi, bhaginī ca kaniṭṭhikā;
Saṅghe dānāni datvāna, katapuññā virocatī’’ti.
“O Lord of Devas, in a former human existence, when she was a human being, she was my co-wife and also my younger sister. Having given gifts to the Saṅgha, she, having made merit, shines.”
Thưa Thiên chủ, thuở trước trong kiếp người, khi còn là con người, nàng đã là vợ cùng chồng với con, và cũng là em gái của con. Do đã dâng cúng đến Tăng đoàn, nàng đã tạo phước và đang tỏa sáng.
637.
637.
637.
‘‘Dhammena pubbe bhaginī, tayā bhadde virocati;
Yaṃ saṅghamhi appameyye, patiṭṭhāpesi dakkhiṇaṃ.
“O Bhaddā, your sister shines more righteously than you, because she established an offering in the immeasurable Saṅgha.”
Này hiền nữ Bhaddā, một cách hợp pháp, người em gái của ngươi trong kiếp trước tỏa sáng hơn ngươi, vì nàng đã an lập sự cúng dường vào Tăng đoàn vô lượng.
638.
638.
638.
‘‘Pucchito hi mayā buddho, gijjhakūṭamhi pabbate;
Vipākaṃ saṃvibhāgassa, yattha dinnaṃ mahapphalaṃ.
“Indeed, I asked the Buddha while he was dwelling on Gijjhakūṭa mountain about the result of sharing—to whom a gift given is of great fruit.”
Quả thật, ta đã hỏi Đức Phật trên núi Gijjhakūṭa về quả của sự sẻ chia, (và) nơi nào sự cúng dường có quả lớn.
639.
639.
639.
‘‘Yajamānānaṃ manussānaṃ, puññapekkhāna pāṇinaṃ;
Karotaṃ opadhikaṃ puññaṃ, yattha dinnaṃ mahapphalaṃ.
“‘For humans who make offerings, for beings who seek merit, for those performing wholesome kamma that leads to rebirth—to whom is a gift given of great fruit?’”
Đối với những người đang bố thí, những chúng sanh mong cầu phước báu, đang tạo tác các phước hữu vi, thì sự cúng dường đến nơi nào có quả lớn?
640.
640.
640.
‘‘Taṃ me buddho viyākāsi, jānaṃ kammaphalaṃ sakaṃ;
Vipākaṃ saṃvibhāgassa, yattha dinnaṃ mahapphalaṃ.
“The Buddha, knowing the fruit of kamma which belongs to beings, explained to me that result of sharing—to whom a gift given is of great fruit.”
Đức Phật, bậc biết rõ quả nghiệp của chúng sanh, đã giải thích cho ta về quả của sự sẻ chia, (và) nơi nào sự cúng dường có quả lớn.
641.
641.
641.
† ‘‘Cattāro ca paṭipannā, cattāro ca phale ṭhitā;
Esa saṅgho ujubhūto, paññāsīlasamāhito.
“‘Four are practicing for the attainment of the fruit, and four are established in the fruit. This Saṅgha is upright, endowed with wisdom and virtue.’”
Bốn vị đang thực hành (Đạo), và bốn vị đã an trú trong Quả. Đây là Tăng đoàn, bậc trực hạnh, đầy đủ trí tuệ và giới hạnh.
642.
642.
642.
† ‘‘Yajamānānaṃ manussānaṃ, puññapekkhāna pāṇinaṃ;
Karotaṃ opadhikaṃ puññaṃ, saṅghe dinnaṃ mahapphalaṃ.
“‘For humans who make offerings, for beings who seek merit, for those performing wholesome kamma that leads to rebirth—a gift given to the Saṅgha is of great fruit.’”
Đối với những người đang bố thí, những chúng sanh mong cầu phước báu, đang tạo tác các phước hữu vi, sự cúng dường đến Tăng đoàn có quả lớn.
643.
643.
643.
† ‘‘Eso hi saṅgho vipulo mahaggato, esappameyyo udadhīva sāgaro;
Ete hi seṭṭhā naravīrasāvakā, pabhaṅkarā dhammamudīrayanti †.
“‘This Saṅgha is indeed vast and exalted; it is immeasurable like the ocean, the sea. These are the supreme disciples of the Hero among men, the makers of light who proclaim the Dhamma.’”
Tăng đoàn này thật rộng lớn, cao cả. Ngài là vô lượng, như biển cả đại dương. Các vị ấy là những đệ tử cao quý của bậc Nhân Hùng, là những người tạo ra ánh sáng, tuyên thuyết Chánh Pháp.
644.
644.
644.
† ‘‘Tesaṃ sudinnaṃ suhutaṃ suyiṭṭhaṃ, ye saṅghamuddissa dadanti dānaṃ;
Sā dakkhiṇā saṅghagatā patiṭṭhitā, mahapphalā lokavidūna † vaṇṇitā.
“‘For those who give a gift directed to the Saṅgha, it is well given, well offered, well sacrificed. That offering, directed to and established in the Saṅgha, is of great fruit, praised by the Knowers of the Worlds.’”
Với những ai hướng đến Tăng đoàn mà bố thí, sự cho của họ là khéo cho, khéo cúng, khéo tế lễ. Sự cúng dường đó đến Tăng đoàn, được an lập, có quả lớn, được các bậc Thế Gian Giải tán thán.
645.
645.
645.
† ‘‘Etādisaṃ yaññamanussarantā †, ye vedajātā vicaranti loke;
Vineyya maccheramalaṃ samūlaṃ, aninditā saggamupenti ṭhāna’’nti.
“‘Those who live in the world, with joy arisen, recollecting such a sacrifice, having dispelled the stain of stinginess together with its root, go blameless to the heavenly abode.’”
Những ai ở đời, với tâm hân hoan, thường tưởng nhớ đến sự cúng dường như vậy mà đi lại; sau khi đã trừ sạch cấu uế của sự keo kiệt cùng với gốc rễ, không bị chê trách, họ đi đến cảnh giới chư Thiên.
Daddallavimānaṃ † chaṭṭhaṃ.
The Story of the Radiant Mansion, the Sixth.
Kết thúc câu chuyện về Thiên cung Daddalla, phẩm thứ sáu.