Bản dịch
VV 32 — Thiên Cung của Latā
4. Latāvimānavatthu
BJT 317Các Thiên nhân Latā, Sajjā, Pavarā, Accimukhī, và Sutā, con gái của đức vua Vessavaṇa, vị vua cao quý, có sự vinh quang, các nàng được nổi bật, chói sáng với những đức hạnh tự nhiên.
BJT 318Và ở đây, năm người nữ này đã đi đến dòng sông tốt lành, có nước mát, có sen xanh để tắm. Ở đó, sau khi các nàng Thiên nhân ấy đã tắm, đã vui đùa, đã nhảy múa, đã ca hát, Sutā đã nói với Latā rằng:
BJT 319“Hỡi cô nàng có mang tràng hoa sen xanh, có vòng hoa đội đầu, có làn da như là vàng, có cặp mắt màu đồng đen, chói sáng tựa như bầu trời, có tuổi thọ, em hỏi chị: Do điều gì mà danh tiếng đã được tạo ra cho chị?
BJT 320Này chị yêu, do điều gì chị được chồng yêu quý hơn hết, được nổi bật và yêu kiều hơn về dáng vóc, được khéo léo về các việc nhảy múa, ca hát, tấu nhạc? Đã được hỏi bởi những (Thiên nhân) nam nữ, mong chị thuật lại cho chúng tôi.”
BJT 321“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã là con dâu ở gia đình có của cải cao sang. Tôi đã không có giận dữ, có sự tuân theo lệnh của chồng, không xao lãng trong ngày trai giới.
BJT 322Khi là con người, trẻ tuổi, không ác độc, có tâm tịnh tín, tôi đã làm hài lòng người chồng, luôn cả em chồng, tôi đã làm hài lòng cha mẹ chồng, luôn cả tôi tớ. Ở nơi ấy, danh tiếng đã được tạo ra cho tôi.
BJT 323Với nghiệp thiện ấy, tôi đây đã đạt đến trạng thái đặc biệt ở bốn lãnh vực: tuổi thọ, sắc đẹp, an vui, và sức mạnh. Tôi thọ hưởng sự khoái lạc vui thích không phải là ít.”
BJT 324“Lời Latā này nói có được lắng nghe không vậy? Chị đã giải thích cho chúng ta điều chúng ta đã hỏi. Nghe rằng những người chồng là số phận đặc biệt dành cho những người phụ nữ chúng ta và là các Thiên nhân cao quý đối với những người nữ chúng ta đây.
BJT 325Tất cả chúng ta hãy thực hành phận sự đối với những người chồng, qua đó các phụ nữ trở thành những người vợ chung thủy. Sau khi thực hành phận sự đối với những người chồng, tất cả chúng ta sẽ đạt được điều Latā này nói.
BJT 326Giống như loài sư tử, có khu vực kiếm ăn là đồi núi cao nguyên, sau khi hùng cứ ở ngọn núi là vật nâng đỡ trái đất, sau khi chế ngự rồi giết chết các loài bốn chân khác; có vật thực là thịt sống, nó ăn các loài thú nhỏ.
BJT 327Tương tự y như thế, ở đây các nữ đệ tử của bậc Thánh, có đức tin, sau khi nương tựa chồng, chung thủy với chồng, sau khi đã tiêu diệt sự phẫn nộ và chế ngự sự bỏn xẻn, người nữ ấy, có thực hành Giáo Pháp, vui sướng ở cõi Trời.”
Thiên Cung của Latā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Latāvimānavatthu
4. The Story of the Latā Mansion.
4. Câu chuyện về Thiên cung Latā
316.
316.
316.
Latā ca sajjā pavarā ca devatā, accimatī † rājavarassa sirīmato;
Sutā ca rañño vessavaṇassa dhītā, rājīmatī dhammaguṇehi sobhatha.
Latā, Sajjā, Pavarā, Acchimatī, and Sutā—these five goddesses, daughters of the glorious and excellent King Vessavaṇa, are radiant, wise, and beautiful with the qualities of the Dhamma.
Các thiên nữ Latā, Sajjā, Pavarā, Accimatī, và Sutā là những ái nữ của vua Vessavaṇa, bậc vương giả cao quý, quang vinh. Các nàng, những người rạng rỡ và trí tuệ, tỏa sáng với các phẩm hạnh của Chánh pháp.
317.
317.
317.
Pañcettha nāriyo āgamaṃsu nhāyituṃ, sītodakaṃ uppaliniṃ sivaṃ nadiṃ;
Tā tattha nhāyitvā rametvā devatā, naccitvā gāyitvā sutā lataṃ bravi †.
Five women came here to bathe in the cool, lotus-filled, auspicious river. Those goddesses, having bathed, rejoiced, danced, and sung there, Sutā then spoke to Latā.
Năm vị nữ nhân đã đến đây để tắm trong dòng sông an lành, nước mát và đầy hoa sen. Sau khi các thiên nữ ấy tắm và vui chơi ở đó, ca múa xong, nàng Sutā nói với nàng Latā.
318.
318.
318.
‘‘Pucchāmi taṃ uppalamāladhārini, āveḷini kañcanasannibhattace;
Timiratambakkhi nabheva sobhane, dīghāyukī kena kato yaso tava.
I ask you, O wearer of lotus garlands, adorned with floral ear-ornaments, with skin like gold, with dark-red eyes, beautiful like a clear sky, O long-lived one: by what was your glory achieved?
“Con xin hỏi chị, người đeo tràng hoa sen, người trang điểm bằng vòng hoa, người có làn da như vàng ròng, người có đôi mắt sẫm màu đồng, người tỏa sáng như bầu trời, hỡi người chị trường thọ, do đâu mà chị có được danh tiếng như vậy?”
319.
319.
319.
‘‘Kenāsi bhadde patino piyatarā, visiṭṭhakalyāṇitarassu rūpato;
Padakkhiṇā naccagītavādite, ācikkha no tvaṃ naranāripucchitā’’ti.
By what means, O excellent one, are you so very dear to your husband and so exceedingly beautiful in form? You are skilled in dance, song, and music. O you who are sought after by gods and goddesses, please tell us.
“Hỡi người chị hiền thục, do đâu mà chị được chồng yêu quý hơn? Do đâu mà chị có dung sắc xinh đẹp và nổi bật hơn? Do đâu mà chị khéo léo trong ca, múa, và nhạc? Hỡi người được các nam thiên và nữ thiên tìm hỏi, xin chị hãy nói cho chúng em biết.”
320.
320.
320.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūtā, uḷārabhoge kule suṇisā ahosiṃ;
Akkodhanā bhattuvasānuvattinī, uposathe appamattā ahosiṃ.
When I was a human being among humans, I was a daughter-in-law in a family of great wealth. I was free from anger, compliant with my husband's will, and was diligent in observing the Uposatha.
“Khi còn là người giữa cõi nhân gian, chị là dâu trong một gia đình có tài sản lớn. Chị không sân hận, luôn thuận theo ý chồng, và không lơ là trong việc giữ ngày Bát quan trai.”
321.
321.
321.
‘‘Manussabhūtā daharā apāpikā †, pasannacittā patimābhirādhayiṃ;
Sadevaraṃ sassasuraṃ sadāsakaṃ, abhirādhayiṃ tamhi kato yaso mama.
As a human being, I was young and without evil. With a serene heart, I pleased my husband, along with his brothers, his mother-in-law and father-in-law, and the servants. Therein was my glory achieved.
“Khi còn là người, chị còn trẻ và không làm điều ác. Với tâm tín thành, chị đã làm vui lòng chồng. Chị đã làm vui lòng chồng cùng với em chồng, cha mẹ chồng, và các tôi tớ. Khi ấy, danh tiếng của chị đã được tạo nên.”
322.
322.
322.
‘‘Sāhaṃ tena kusalena kammunā, catubbhi ṭhānehi visesamajjhagā;
Āyuñca vaṇṇañca sukhaṃ balañca, khiḍḍāratiṃ paccanubhomanappakaṃ.
I, by that wholesome deed, attained distinction in four respects. I experience long life, beauty, happiness, strength, and no small amount of playful delight.
“Nhờ thiện nghiệp ấy, chị đã đạt được sự đặc biệt ở bốn phương diện. Chị đang hưởng thụ tuổi thọ, dung sắc, an lạc, sức mạnh, và niềm vui thích không nhỏ.”
323.
323.
323.
‘‘Sutaṃ nu taṃ bhāsati yaṃ ayaṃ latā, yaṃ no apucchimha akittayī no;
Patino kiramhākaṃ visiṭṭha nārīnaṃ, gatī ca tāsaṃ pavarā ca devatā.
Sisters, have you heard what this Latā says? She has answered the question we asked her. For us women, a husband is indeed a special refuge and an excellent deity.
“Các chị có nghe những gì nàng Latā này nói không? Điều chúng ta đã hỏi, nàng đã giải thích cho chúng ta. Quả thật, đối với chúng ta là phụ nữ, người chồng là nơi nương tựa đặc biệt và là vị trời cao quý nhất của họ.”
324.
324.
324.
‘‘Patīsu dhammaṃ pacarāma sabbā, patibbatā yattha bhavanti itthiyo;
Patīsu dhammaṃ pacaritva † sabbā, lacchāmase bhāsati yaṃ ayaṃ latā.
Let all of us practice the Dhamma towards our husbands, by which women become devoted wives. Having all practiced the Dhamma towards our husbands, we shall obtain that of which this Latā speaks.
“Tất cả chúng ta hãy thực hành bổn phận đối với chồng, nhờ đó mà những người phụ nữ trở nên chung thủy với chồng. Sau khi tất cả chúng ta thực hành bổn phận đối với chồng, chúng ta sẽ đạt được những gì mà nàng Latā này nói.”
325.
325.
325.
‘‘Sīho yathā pabbatasānugocaro, mahindharaṃ pabbatamāvasitvā;
Pasayha hantvā itare catuppade, khudde mige khādati maṃsabhojano.
Just as a lion that roams on mountain slopes, dwelling on a mighty mountain, a flesh-eater, overpowers and kills other small, four-footed beasts and devours them;
“Cũng như sư tử, loài ăn thịt, đi lại trên các sườn núi, sau khi trú ngụ trên một ngọn núi lớn, nó dùng sức mạnh giết chết các loài thú bốn chân nhỏ bé khác rồi ăn thịt…”
326.
326.
326.
‘‘Tatheva saddhā idha ariyasāvikā, bhattāraṃ nissāya patiṃ anubbatā;
Kodhaṃ vadhitvā abhibhuyya maccharaṃ, saggamhi sā modati dhammacārinī’’ti.
Even so, a noble female disciple in this world, endowed with faith, relying on her husband and devoted to her lord; having slain anger and overcome stinginess, she, a practitioner of the Dhamma, rejoices in heaven.
“…cũng vậy, ở đời này, một nữ Thánh đệ tử có đức tin, nương tựa vào chồng, thuận theo chồng, sau khi đã diệt trừ sân hận và chế ngự lòng bỏn xẻn, người nữ thực hành Chánh pháp ấy sẽ hoan hỷ ở cõi trời.”
Latāvimānaṃ catutthaṃ.
The fourth is the Latā Mansion.
Câu chuyện Thiên cung Latā, phần thứ tư.