Bản dịch
VV 31 — Thiên Cung Chiếc Ghế Dài
3. Pallaṅkavimānavatthu
BJT 308“Hỡi nàng tiên có đại oai lực, tại chiếc ghế dài hạng nhất được tô điểm với ngọc ma-ni và vàng, ở chỗ nằm cao sang được rải rắc với những bông hoa, nàng ngự ở nơi ấy, đang biến hóa thần thông cao thấp đa dạng.
BJT 309Và nàng có các tiên nữ này nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển ở xung quanh. Hỡi cô nàng có đại oai lực, nàng đã đạt được thần thông của chư Thiên. Khi là con người nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 310“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã là con dâu ở gia đình giàu có. Tôi đã không có giận dữ, có sự tuân theo lệnh của chồng, không xao lãng trong ngày trai giới.
BJT 311Khi là con người, trẻ tuổi, không ác độc, có tâm tịnh tín, tôi đã làm hài lòng người chồng. Có lối cư xử vui vẻ vào ban ngày và ban đêm, tôi đã là người có giữ giới trước đây.
BJT 312Là người đã kiêng chừa việc giết hại mạng sống, không phải kẻ trộm cắp, có thân (nghiệp) hoàn toàn trong sạch, có sự thực hành đức hạnh trong trắng, không có việc uống chất say, và tôi đã không nói lời dối trá, là người có sự thực hành đầy đủ trọn vẹn về các điều học.
BJT 313Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng, với tâm ý tịnh tín, có sự thực hành thuận theo Pháp, với tâm ý hoan hỷ, tôi đã hành trì ngày trai giới gồm có tám yếu tố.
BJT 314Và sau khi thọ trì thiện pháp gồm có tám yếu tố cao quý, thánh thiện, đem lại an lạc này, là người nữ yêu kiều, có sự tuân theo lệnh của chồng, tôi đã là nữ Thinh Văn của đấng Thiện Thệ ở thời quá khứ.
BJT 315Sau khi tạo ra nghiệp thiện như thế này ở đời sống, tôi là người nữ có được phần giác ngộ. Do sự tan rã của thân xác, vào kiếp sống kế tiếp, tôi đã đạt được thần thông của chư Thiên, đã đi đến nhàn cảnh.
BJT 316Ở tòa lâu đài nơi Thiên cung cao quý, làm thích ý, tôi được hầu cận bởi đám đông tiên nữ, tôi có ánh sáng tự thân. Tôi đã đi đến cung điện của chư Thiên, là (Thiên nhân) có tuổi thọ; các tập thể chư Thiên khiến cho tôi được vui thích.”
Thiên Cung Chiếc Ghế Dài.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Pallaṅkavimānavatthu
3. The Story of the Couch Mansion.
3. Câu chuyện về Thiên cung Giường Nằm
307.
307.
307.
‘‘Pallaṅkaseṭṭhe maṇisoṇṇacitte, pupphābhikiṇṇe sayane uḷāre;
Tatthacchasi devi mahānubhāve, uccāvacā iddhi vikubbamānā.
On the excellent couch, adorned with gems and gold, a splendid couch strewn with flowers, there you dwell, O goddess of great power, manifesting diverse psychic powers.
“Hỡi thiên nữ có đại oai lực, ngài ngự trên chiếc giường cao quý, được trang hoàng bằng ngọc và vàng, trên chiếc giường lộng lẫy rải đầy hoa. Ở đó, ngài đang thi triển nhiều loại thần thông khác nhau.”
308.
308.
308.
‘‘Imā ca te accharāyo samantato, naccanti gāyanti pamodayanti;
Deviddhipattāsi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
These celestial nymphs surround you on all sides, dancing, singing, and delighting. You have attained divine power, O goddess of great power. When you were a human being, what merit did you perform? By what means do you have such blazing majesty, and your complexion illuminates all directions?
“Và các tiên nữ này xung quanh ngài đang ca múa và làm cho ngài vui thích. Hỡi vị có đại oai lực, ngài đã đạt được thần thông của chư thiên. Khi còn là người, ngài đã làm phước gì? Do đâu ngài có oai lực rực rỡ như vậy, và do đâu dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương?”
309.
309.
309.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūtā, aḍḍhe kule suṇisā ahosiṃ;
Akkodhanā bhattuvasānuvattinī, uposathe appamattā ahosiṃ †.
When I was a human being among humans, I was a daughter-in-law in a wealthy family. I was free from anger, compliant with my husband's will, and was diligent in observing the Uposatha.
“Khi còn là người giữa cõi nhân gian, con là dâu trong một gia đình giàu có. Con không sân hận, luôn thuận theo ý chồng, và không lơ là trong việc giữ ngày Bát quan trai.”
310.
310.
310.
‘‘Manussabhūtā daharā apāpikā †, pasannacittā patimābhirādhayiṃ;
Divā ca ratto ca manāpacārinī, ahaṃ pure sīlavatī ahosiṃ.
As a human being, I was young and without evil. With a serene heart, I pleased my husband. By day and by night, I was one who acted agreeably. Formerly, I was virtuous.
“Khi còn là người, con còn trẻ và không làm điều ác. Với tâm tín thành, con đã làm vui lòng chồng. Cả ngày lẫn đêm, con luôn hành xử dễ mến. Trước kia, con là người có giới hạnh.”
311.
311.
311.
‘‘Pāṇātipātā viratā acorikā, saṃsuddhakāyā sucibrahmacārinī;
Amajjapā no ca musā abhāṇiṃ, sikkhāpadesu paripūrakārinī.
I abstained from taking life and was free from theft. My bodily conduct was pure, and I practiced the pure, noble conduct. I did not consume intoxicants, nor did I speak falsehood. I was one who fulfilled the training rules.
“Con từ bỏ sát sanh, không trộm cắp, có thân nghiệp thanh tịnh, thực hành phạm hạnh trong sạch. Con không uống rượu và các chất say, cũng không nói dối, và là người thực hành viên mãn các học giới.”
312.
312.
312.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, pasannamānasā ahaṃ †.
On the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the fortnight, and on the special observance days of the fortnight, I, with a serene mind…
“Vào các ngày mười bốn, rằm, và mùng tám của mỗi nửa tháng, và cả vào những ngày đặc biệt của kỳ trai giới, con với tâm tín thành…”
313.
313.
313.
‘‘Aṭṭhaṅgupetaṃ anudhammacārinī, uposathaṃ pītimanā upāvasiṃ;
Imañca ariyaṃ aṭṭhaṅgavarehupetaṃ, samādiyitvā kusalaṃ sukhudrayaṃ;
Patimhi kalyāṇī vasānuvattinī, ahosiṃ pubbe sugatassa sāvikā.
…practicing in accordance with the Dhamma, observed the Uposatha endowed with eight factors with a joyful mind. Having well undertaken this noble Uposatha, endowed with its eight excellent factors—a wholesome act that brings forth happiness—I was, towards my husband, virtuous and compliant with his will. Formerly, I was a female disciple of the Sugata.
“…đã thực hành đúng theo Chánh pháp, với tâm hoan hỷ, con đã thọ trì ngày Bát quan trai giới gồm tám chi phần. Sau khi thọ trì giới Bát quan trai cao quý này, một thiện nghiệp mang lại an lạc, con đã là người vợ hiền, thuận theo ý chồng. Trước kia, con là một nữ đệ tử của bậc Thiện Thệ.”
314.
314.
314.
‘‘Etādisaṃ kusalaṃ jīvaloke, kammaṃ karitvāna visesabhāginī;
Kāyassa bhedā abhisamparāyaṃ, deviddhipattā sugatimhi āgatā.
Having performed such a wholesome deed in the world of beings and thus becoming a partaker of a special portion, after the breaking up of the body, in the next world, I have come to a happy destination, having attained divine power.
“Do đã làm thiện nghiệp như vậy trong thế giới chúng sanh, con đã được hưởng phần phước đặc biệt. Sau khi thân hoại mạng chung, trong đời sau, con đã đạt được thần thông của chư thiên và đã đến được thiện thú.”
315.
315.
315.
‘‘Vimānapāsādavare manorame, parivāritā accharāsaṅgaṇena;
Sayaṃpabhā devagaṇā ramenti maṃ, dīghāyukiṃ devavimānamāgata’’nti;
In this excellent palace-mansion, delightful to the mind, surrounded by a host of celestial nymphs, I am self-radiant. The hosts of devas entertain me, who am long-lived and have come to this divine mansion.
“Trong thiên cung lầu các tuyệt vời, khả ái, con được đoàn tiên nữ vây quanh. Các vị thiên chúng tự tỏa hào quang làm cho con, người có tuổi thọ dài lâu đã đến thiên cung này, được vui thích.”
Pallaṅkavimānaṃ tatiyaṃ.
The Third Story: The Couch Mansion.
Thiên cung Giường Nằm, câu chuyện thứ ba.