Bản dịch
VV 22 — Thiên Cung của Bhadditthī
5. Bhadditthivimānavatthu
BJT 204-205“Này người nữ thông minh tuyệt vời, nàng đội ở trên đầu vòng hoa gồm nhiều bông hoa của cây mandārava; những cây này không có ở các tập thể (chư Thiên) khác. Chúng được bao bọc bởi các tua nhụy gồm nhiều màu sắc đậm nhạt (khác nhau): màu xanh, màu vàng, màu đen, và màu đỏ tía, rồi màu đỏ tươi.
BJT 206Này cô nàng có danh tiếng, do việc (phước thiện) nào mà nàng đã được sanh lên cõi Trời Ba Mươi Ba? Này nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 207“Người ta đã biết về con là ‘Bhadditthī,’ nữ cư sĩ ở thành Kimbilā, được đầy đủ đức tin và giới hạnh, luôn luôn thích thú việc san sẻ.
BJT 208Con đã bố thí y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, đèn đuốc, với tâm ý thanh tịnh ở những con người chính trực.
BJT 209Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám yếu tố (tám giới).
BJT 210Con đã hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Con cư ngụ ở tòa lâu đài, có sự tự kiềm chế, có sự san sẻ.
BJT 211Con kiêng chừa việc giết hại mạng sống, và thu thúc về việc nói dối, việc trộm cắp, việc tà hạnh, và xa lánh việc uống chất say.
BJT 212Con được vui thích ở năm điều học, là người thông hiểu các Chân Lý Cao Thượng, là nữ cư sĩ của đấng Hữu Nhãn Gotama có danh tiếng.
BJT 213Và con đã dâng vật thực đến các tỳ khưu, những vị có lòng thương tưởng đến điều lợi ích tối thượng, đến hai vị đại hiền trí khổ hạnh (Sāriputta và Moggallāna). Có sự an trú đã được tạo lập, có việc thiện đã được thực hiện, đã chết từ nơi ấy, con lang thang đến (khu vườn) Nandana, có hào quang của chính mình.
BJT 214Con đã thường xuyên hành trì ngày trai giới gồm tám yếu tố đem lại sự an lạc vô lượng. Có sự an trú đã được tạo lập, có việc thiện đã được thực hiện, đã chết từ nơi ấy, con lang thang đến (khu vườn) Nandana, có hào quang của chính mình.”
Thiên Cung của Bhadditthī.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
5. Bhadditthivimānavatthu
5. The Story of Bhadditthi's Celestial Mansion
5. Câu chuyện Thiên cung của người nữ Bhadditthi
206.
206.
206.
‘‘Nīlā pītā ca kāḷā ca, mañjiṭṭhā † atha lohitā;
Uccāvacānaṃ vaṇṇānaṃ, kiñjakkhaparivāritā.
“Blue, yellow, and black, crimson and red; surrounded by filaments of various colors.”
Màu xanh, vàng, đen, đỏ thẫm và đỏ tươi; được bao quanh bởi những nhụy hoa có màu sắc cao thấp khác nhau.
207.
207.
207.
‘‘Mandāravānaṃ pupphānaṃ, mālaṃ dhāresi muddhani;
Nayime aññesu kāyesu, rukkhā santi sumedhase.
“You wear on your head a garland of Mandārava flowers. These trees do not exist in other realms, O wise one.”
Nàng đội trên đầu vòng hoa Mandārava. Này thiên nữ trí tuệ, những cây này không tồn tại ở các cõi khác.
208.
208.
208.
‘‘Kena kāyaṃ upapannā, tāvatiṃsaṃ yasassinī;
Devate pucchitācikkha, kissa kammassidaṃ phala’’nti.
“By what kamma have you been reborn in the Tāvatiṃsa realm, O renowned one? O goddess, being asked by me, please declare: of what kamma is this the fruit?”
Này thiên nữ danh tiếng, do nghiệp gì mà nàng được sanh vào cõi trời Ba Mươi Ba? Này thiên nữ, được hỏi, hãy cho ta biết, đây là quả của nghiệp gì?
209.
209.
209.
‘‘Bhadditthikāti † maṃ aññaṃsu, kimilāyaṃ upāsikā;
Saddhā sīlena sampannā, saṃvibhāgaratā sadā.
“In Kimilā they knew me as the laywoman disciple Bhadditthi. I was endowed with faith and virtue, always delighting in sharing.”
Ở thành Kimilā, người ta biết con là nữ cận sự tên Bhadditthi. Con đầy đủ tín và giới, và luôn hoan hỷ trong việc chia sẻ.
210.
210.
210.
‘‘Acchādanañca bhattañca, senāsanaṃ padīpiyaṃ;
Adāsiṃ ujubhūtesu, vippasannena cetasā.
“With a mind especially confident, I gave clothing, food, lodging, and illumination to the upright ones.”
Con đã cúng dường y phục, vật thực, chỗ ở và đèn đuốc đến các bậc chân chánh với tâm ý trong sạch.
211.
211.
211.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāgataṃ.
“On the fourteenth, the fifteenth, and on the eighth day of the fortnight, and also on the special observance days, I observed the Uposatha, well-endowed with its eight factors.”
Vào ngày mười bốn, mười lăm, và ngày thứ tám của mỗi nửa tháng, và vào ngày đặc biệt của kỳ trai giới, (con đã thọ trì) Bát quan trai giới một cách trọn vẹn.
212.
212.
212.
‘‘Uposathaṃ upavasissaṃ, sadā sīlesu saṃvutā;
Saññamā saṃvibhāgā ca, vimānaṃ āvasāmahaṃ.
“I would observe the Uposatha, always restrained in the precepts. Through restraint and sharing, I inhabit a celestial mansion.”
Con đã thọ trì ngày trai giới, luôn luôn phòng hộ trong các giới luật. Nhờ sự tự chế và chia sẻ, con được ở trong thiên cung này.
213.
213.
213.
‘‘Pāṇātipātā viratā, musāvādā ca saññatā;
Theyyā ca aticārā ca, majjapānā ca ārakā.
“I was one who abstained from the destruction of life, was restrained from false speech, and was far from theft, sexual misconduct, and the partaking of intoxicants.”
Con đã từ bỏ sát sanh, tự chế không nói dối, và xa lánh trộm cắp, tà hạnh, và uống rượu.
214.
214.
214.
‘‘Pañcasikkhāpade ratā, ariyasaccāna kovidā;
Upāsikā cakkhumato, appamādavihārinī.
“Delighting in the five training rules, skilled in the Noble Truths, I was a laywoman disciple of the One with Vision, dwelling in heedfulness.”
Con hoan hỷ trong năm học giới, thông suốt Tứ Diệu Đế. Con là nữ cận sự của bậc có Mắt, sống không buông lung.
Katāvāsā katakusalā tato cutā †,
Sayaṃ pabhā anuvicarāmi nandanaṃ.
“Having created the opportunity and performed wholesome deeds, and having passed away from there, I now wander about in Nandana, shining with my own radiance.”
Đã tạo nghiệp lành, đã làm điều thiện, sau khi mệnh chung từ đó, con tự mình tỏa sáng, dạo chơi trong vườn Nandana.
215.
215.
215.
‘‘Bhikkhū cāhaṃ paramahitānukampake, abhojayiṃ tapassiyugaṃ mahāmuniṃ;
Katāvāsā katakusalā tato cutā †, sayaṃ pabhā anuvicarāmi nandanaṃ.
“I provided food to the monks who are compassionate for the supreme welfare, and to the pair of ascetics, the great sages. Having created the opportunity and performed wholesome deeds, and having passed away from there, I now wander about in Nandana, shining with my own radiance.”
Con đã cúng dường các vị Tỳ-kheo, những bậc bi mẫn vì lợi ích tối thượng, và cặp đôi khổ hạnh, bậc Đại Mâu-ni. Đã tạo nghiệp lành, đã làm điều thiện, sau khi mệnh chung từ đó, con tự mình tỏa sáng, dạo chơi trong vườn Nandana.
216.
216.
216.
‘‘Aṭṭhaṅgikaṃ aparimitaṃ sukhāvahaṃ, uposathaṃ satatamupāvasiṃ ahaṃ;
Katāvāsā katakusalā tato cutā †, sayaṃ pabhā anuvicarāmi nandana’’nti.
“I constantly observed the eight-factored Uposatha, which is immeasurable and brings happiness. Having created the opportunity and performed wholesome deeds, and having passed away from there, I now wander about in Nandana, shining with my own radiance.”
Con đã thường xuyên thọ trì ngày trai giới Bát quan, vô lượng và mang lại hạnh phúc. Đã tạo nghiệp lành, đã làm điều thiện, sau khi mệnh chung từ đó, con tự mình tỏa sáng, dạo chơi trong vườn Nandana.
Bhadditthivimānaṃ † pañcamaṃ.
Bhadditthi's Celestial Mansion, the fifth.
Thiên cung của người nữ Bhadditthi, câu chuyện thứ năm.