Bản dịch
VV 21 — Thiên Cung của Người Nữ Dòng Hạ Tiện
4. Caṇḍālivimānavatthu
BJT 193“Này bà lão dòng hạ tiện, bà hãy đảnh lễ các bàn chân của đức Gotama có danh tiếng. Bậc Ẩn Sĩ tối thượng đã đứng lại vì lòng thương tưởng dành cho chính bà.
BJT 194Bà hãy khởi tâm tịnh tín ở bậc A-la-hán như thế ấy. Hãy mau chắp tay lại đảnh lễ, mạng sống của bà là ngắn ngủi.”
BJT 195Được khuyến khích bởi vị có bản thân đã được tu tập đang mang thân mạng cuối cùng, bà lão dòng hạ tiện đã đảnh lễ các bàn chân của đức Gotama có danh tiếng.
BJT 196Có con bò cái đã húc chết bà lão dòng hạ tiện ấy đấy, trong khi bà đứng chắp tay, đang lễ bái đấng Toàn Giác, bậc tạo ra ánh sáng ở bóng tối.
BJT 197“Thưa bậc anh hùng có đại oai lực, tôi đã đạt được thần lực của chư Thiên, tôi đi đến và đảnh lễ ngài, bậc có lậu hoặc đã được cạn kiệt, có bụi bặm đã được xa lìa, không còn dục vọng, đã ngồi cô độc một mình ở khu rừng.”
BJT 198“Nàng có sắc của vàng, rực sáng, có danh tiếng lớn lao, được tô điểm nhiều màu sắc, được tháp tùng bởi đoàn tiên nữ, đã hạ xuống từ Thiên cung, hỡi nàng tiên xinh đẹp, nàng là ai mà đảnh lễ ta?”
BJT 199“Thưa ngài đại đức, tôi là người nữ dòng hạ tiện đã được khích lệ bởi ngài, bởi vị anh hùng. Tôi đã đảnh lễ các bàn chân của bậc A-la-hán Gotama có danh tiếng.
BJT 200Tôi đây, sau khi đảnh lễ các bàn chân, đã từ trần khỏi dòng dõi hạ tiện, tôi được tái sanh ở Thiên cung tốt đẹp về mọi phương diện, ở (khu vườn) Nandana.
BJT 201Một trăm ngàn tiên nữ đứng tháp tùng. Trong số họ, tôi là người quý cao, hạng nhất về sắc đẹp, về danh tiếng, về tuổi thọ.
BJT 202Thưa ngài, với nhiều việc tốt đẹp đã làm, có sự nhận biết rõ, có niệm, tôi đi đến để đảnh lễ ngài, bậc hiền trí, có lòng bi mẫn ở thế gian.”
BJT 203Sau khi nói xong điều ấy, người nữ dòng hạ tiện, có sự biết ơn, có sự nhận biết việc đã làm, đã đảnh lễ các bàn chân của vị A-la-hán, rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Thiên Cung của Người Nữ Dòng Hạ Tiện.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
4. Caṇḍālivimānavatthu
4. The Story of the Celestial Mansion of the Caṇḍālī Woman
4. Câu chuyện Thiên cung của người nữ Caṇḍālī
195.
195.
195.
‘‘Caṇḍāli vanda pādāni, gotamassa yasassino;
Tameva † anukampāya, aṭṭhāsi isisattamo †.
“O Caṇḍālī, worship the feet of Gotama, the renowned. The supreme sage stood out of compassion for you alone.”
Này người nữ Caṇḍālī, hãy đảnh lễ đôi chân của đức Gotama, bậc danh tiếng lẫy lừng. Bậc Thánh nhân tối thượng đã dừng lại chính vì lòng bi mẫn đối với ngươi.
196.
196.
196.
‘‘Abhippasādehi manaṃ, arahantamhi tādini †;
Khippaṃ pañjalikā vanda, parittaṃ tava jīvita’’nti.
“Inspire your mind with confidence in the Arahant, the Such-like One. Quickly, with hands joined in reverence, worship; your life is short.”
Hãy làm cho tâm ý trong sạch đối với bậc A-la-hán, bậc Tādin. Hãy mau chóng chắp tay đảnh lễ, mạng sống của ngươi thật ngắn ngủi.
197.
197.
197.
Coditā bhāvitattena, sarīrantimadhārinā;
Caṇḍālī vandi pādāni, gotamassa yasassino.
Urged by the one with a developed mind, the bearer of the final body, the Caṇḍālī woman worshipped the feet of Gotama, the renowned.
Được thúc giục bởi bậc có tâm tu tập, bậc mang thân cuối cùng, người nữ Caṇḍālī đã đảnh lễ đôi chân của đức Gotama, bậc danh tiếng lẫy lừng.
198.
198.
198.
Tamenaṃ avadhī gāvī, caṇḍāliṃ pañjaliṃ ṭhitaṃ;
Namassamānaṃ sambuddhaṃ, andhakāre pabhaṅkaranti.
A cow then killed that Caṇḍālī woman, who stood with hands joined in reverence, worshipping the Sambuddha, the maker of light in the darkness.
Một con bò cái đã húc chết người nữ Caṇḍālī ấy, khi nàng đang đứng chắp tay đảnh lễ bậc Chánh Đẳng Giác, người tạo ra ánh sáng trong bóng tối.
199.
199.
199.
‘‘Khīṇāsavaṃ vigatarajaṃ anejaṃ, ekaṃ araññamhi raho nisinnaṃ;
Deviddhipattā upasaṅkamitvā, vandāmi taṃ vīra mahānubhāva’’nti.
“Having approached the one whose cankers are destroyed, whose dust is gone, who is unwavering, seated alone in seclusion in the forest, I, having attained divine accomplishment, worship you, O Hero of great power.”
Đã đạt được thần lực của chư thiên, nàng đến gần bậc đã đoạn tận lậu hoặc, đã lìa trần cấu, không còn tham ái, đang ngồi một mình nơi thanh vắng trong rừng, (và nói): 'Con xin đảnh lễ ngài, bậc tinh cần, bậc đại oai lực.'
200.
200.
200.
‘‘Suvaṇṇavaṇṇā jalitā mahāyasā, vimānamoruyha anekacittā;
Parivāritā accharāsaṅgaṇena †, kā tvaṃ subhe devate vandase mama’’nti.
“You are of golden complexion, radiant, of great renown; having descended from a celestial mansion of varied and wonderful design, surrounded by a troop of celestial nymphs—who are you, O beautiful goddess, that you worship me?”
Này thiên nữ xinh đẹp, nàng có màu da như vàng, rực rỡ, danh tiếng lẫy lừng, trang sức muôn màu lộng lẫy, từ thiên cung bước xuống, được đoàn thiên nữ vây quanh. Nàng là ai mà đảnh lễ ta vậy?
201.
201.
201.
‘‘Ahaṃ bhaddante caṇḍālī, tayā vīrena † pesitā;
Vandiṃ arahato pāde, gotamassa yasassino.
“Venerable sir, I was the Caṇḍālī woman who, prompted by you, the hero, worshipped the feet of the Arahant, Gotama the renowned.”
Bạch ngài, con là người nữ Caṇḍālī. Được ngài, bậc tinh cần, thúc giục, con đã đảnh lễ đôi chân của bậc A-la-hán, đức Gotama, bậc danh tiếng lẫy lừng.
202.
202.
202.
‘‘Sāhaṃ vanditvā † pādāni, cutā caṇḍālayoniyā;
Vimānaṃ sabbato bhaddaṃ, upapannamhi nandane.
“I, that one, having worshipped his feet and passed away from a Caṇḍāla birth, have been reborn in the Nandana grove, in a celestial mansion that is auspicious in every way.”
Chính con, sau khi đảnh lễ đôi chân (của Ngài), đã thoát khỏi thai bào Caṇḍālī, và được tái sanh vào một thiên cung tốt đẹp toàn diện trong vườn Nandana.
203.
203.
203.
‘‘Accharānaṃ satasahassaṃ, purakkhatvāna † tiṭṭhati;
Tāsāhaṃ pavarā seṭṭhā, vaṇṇena yasasāyunā.
“A hundred thousand celestial nymphs attend me, placing me at the forefront. Among them, I am the most excellent and the best in complexion, renown, and lifespan.”
Một trăm ngàn thiên nữ vây quanh con. Giữa họ, con là người cao quý nhất, ưu việt nhất về sắc đẹp, danh tiếng và tuổi thọ.
204.
204.
204.
‘‘Pahūtakatakalyāṇā, sampajānā paṭissatā †;
Muniṃ kāruṇikaṃ loke, taṃ bhante vanditumāgatā’’ti.
“Venerable Sir, having performed abundant meritorious deeds, being clearly comprehending and mindful, I have come to worship you, the compassionate Sage in the world.”
Con đã tạo nhiều thiện nghiệp, có tỉnh giác và chánh niệm. Bạch ngài, con đến đây để đảnh lễ ngài, bậc Mâu-ni, bậc bi mẫn trong thế gian.
205.
205.
205.
Idaṃ vatvāna caṇḍālī, kataññū katavedinī;
Vanditvā arahato pāde, tatthevantaradhāyathāti †.
Having said this, that Caṇḍālī woman, grateful and acknowledging of the benefit received, worshipped the feet of the Arahant and vanished right there on that very spot.
Nói lời này xong, người nữ Caṇḍālī, người biết ơn và đền ơn, đã đảnh lễ đôi chân của bậc A-la-hán và biến mất ngay tại chỗ.
Caṇḍālivimānaṃ catutthaṃ.
The Caṇḍālī's Celestial Mansion, the fourth.
Thiên cung của người nữ Caṇḍālī, câu chuyện thứ tư.