Bản dịch
VV 23 — Thiên Cung của Soṇadinnā
6. Soṇadinnāvimānavatthu
BJT 215“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 216Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 217Hỡi nàng tiên, do điều gì mà nàng có hào quang không bị vẩn đục sáng chói vượt trội? Do điều gì mà khắp các phương đều chói sáng nhờ vào tất cả các phần thân thể của nàng?
BJT 218Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 219Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 220“Người ta đã biết về tôi là ‘Soṇadinnā,’ nữ cư sĩ ở thành Nālandā, được đầy đủ đức tin và giới hạnh, luôn luôn thích thú việc san sẻ.
BJT 221Tôi đã bố thí y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, đèn đuốc, với tâm ý thanh tịnh ở những con người chính trực.
BJT 222Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 223Tôi đã hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Tôi cư ngụ ở tòa lâu đài, có sự tự kiềm chế, có sự san sẻ.
BJT 224Tôi kiêng chừa việc giết hại mạng sống, và thu thúc về việc nói dối, việc trộm cắp, việc tà hạnh, và xa lánh việc uống chất say.
BJT 225Tôi được vui thích ở năm điều học, là người thông hiểu các Chân Lý Cao Thượng, là nữ cư sĩ của đấng Hữu Nhãn Gotama có danh tiếng.
BJT 226Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 227Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Soṇadinnā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
6. Soṇadinnāvimānavatthu
6. The Story of Soṇadinnā’s Mansion
6. Câu chuyện Thiên cung Soṇadinnā
217.
217.
217.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena, yā tvaṃ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā, osadhī viya tārakā.
“O devī, with a surpassing complexion you stand, illuminating all directions, like the morning star.”
“Này thiên nữ, ngài đang đứng đó với dung sắc tuyệt vời, tỏa sáng khắp mọi phương trời, giống như sao mai vậy.”
218.
218.
218.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
“By what is such a complexion yours? By what is it that you succeed here? And by what do possessions arise for you, whatever is dear to the mind?”
“Do nhân gì mà ngài có dung sắc như vậy? Do nhân gì mà ở đây ngài được thành tựu? Và các tài sản nào khả ái theo ý muốn đều được sanh khởi cho ngài?”
219.
219.
219.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
“I ask you, O devī of great power: what merit did you make when you were a human being? By what are you of such blazing power, and by what does your complexion illuminate all directions?”
“Tôi xin hỏi ngài, này thiên nữ có đại oai lực, khi là người ngài đã làm phước gì? Do nhân gì ngài có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngài chiếu sáng khắp mọi phương trời?”
220.
220.
220.
Sā devatā attamanā, moggallānena pucchitā;
Pañhaṃ puṭṭhā viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, delighted at being questioned by Moggallāna, when asked the question, explained of what kamma this was the fruit.
Vị thiên nữ ấy, tâm trí hoan hỷ, được ngài Moggallāna hỏi đến, đã giải thích câu hỏi về nghiệp nhân của quả báo này.
221.
221.
221.
‘‘Soṇadinnāti maṃ aññaṃsu, nāḷandāyaṃ upāsikā;
Saddhā sīlena sampannā, saṃvibhāgaratā sadā.
“They knew me as Soṇadinnā, a female lay disciple in Nāḷandā. I was endowed with faith and virtue, and always delighted in sharing.”
“Ở Nāḷandā, họ biết tôi là nữ cận sự tên Soṇadinnā, người đầy đủ đức tin, giới hạnh, và luôn luôn ưa thích trong sự chia sớt.”
222.
222.
222.
‘‘Acchādanañca bhattañca, senāsanaṃ padīpiyaṃ;
Adāsiṃ ujubhūtesu, vippasannena cetasā.
With a mind of supreme confidence, I gave clothing, food, lodging, and lamps to the upright ones.
“Tôi đã dâng cúng y phục, vật thực, chỗ ở, và đèn đuốc đến các vị ngay thẳng, với tâm ý trong sạch.”
223.
223.
223.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāgataṃ.
On the fourteenth, the fifteenth, and the eighth day of the fortnight, and on the special observance day, endowed with the eight factors,
“Vào các ngày mười bốn, mười lăm, và ngày thứ tám của mỗi nửa tháng, và vào ngày đặc biệt của nửa tháng, (tôi đã thọ trì) Uposatha gồm đủ tám chi phần.”
224.
224.
224.
‘‘Uposathaṃ upavasissaṃ, sadā sīlesu saṃvutā;
Saññamā saṃvibhāgā ca, vimānaṃ āvasāmahaṃ.
I observed the Uposatha, ever restrained in virtue. Through restraint and sharing, I now dwell in this mansion.
“Tôi đã luôn luôn sống theo ngày Uposatha, được thu thúc trong các giới hạnh, có sự chế ngự và sự chia sớt, (do đó) tôi được ở trong thiên cung.”
225.
225.
225.
‘‘Pāṇātipātā viratā, musāvādā ca saññatā;
Theyyā ca aticārā ca, majjapānā ca ārakā.
I abstained from the destruction of life and was restrained from false speech; I kept far from theft, sexual misconduct, and the partaking of intoxicants.
“Tôi đã từ bỏ sát sanh, đã chế ngự lời nói dối, đã tránh xa sự trộm cắp, sự tà dâm, và sự uống rượu.”
226.
226.
226.
‘‘Pañcasikkhāpade ratā, ariyasaccāna kovidā;
Upāsikā cakkhumato, gotamassa yasassino.
Delighting in the five training precepts, skilled in the Noble Truths, I was a female lay disciple of the one with vision, the glorious Gotama.
“Tôi ưa thích trong năm học giới, thông thạo về các Thánh đế, là nữ cận sự của đấng Có Mắt, của ngài Gotama danh tiếng.”
227.
227.
227.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
Through that, such is my complexion... and my complexion illuminates all directions.
“Do nhân ấy, tôi có dung sắc như vậy ... và dung sắc của tôi chiếu sáng khắp mọi phương trời.”
Soṇadinnāvimānaṃ chaṭṭhaṃ.
The Sixth Story: The Mansion of Soṇadinnā.
Thiên cung của Soṇadinnā, câu chuyện thứ sáu.