Bản dịch
VV 2 — Thiên Cung Chiếc Ghế thứ nhì
2. Dutiyapīṭhavimānavatthu
BJT 8“Chiếc ghế của nàng làm bằng ngọc bích, cao sang, di chuyển với tốc độ của tâm theo như ước muốn. Hỡi cô nàng đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, nàng chói sáng tựa như tia chớp ở trên đỉnh đám mây.
BJT 9Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 10Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 11Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 12“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã bố thí chỗ ngồi nhỏ cho những người khách đi đến. Tôi đã chào hỏi, đã chắp tay, và đã dâng vật thí tùy theo khả năng.
BJT 13Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 14Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Chiếc Ghế thứ nhì.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
3. Tatiyapīṭhavimānavatthu
3. The Story of the Third Dais-Mansion
3. Câu Chuyện Thiên Cung Cái Ghế Thứ Ba
15.
15.
15.
‘‘Pīṭhaṃ te sovaṇṇamayaṃ uḷāraṃ, manojavaṃ gacchati yenakāmaṃ;
Alaṅkate malyadhare suvatthe, obhāsasi vijjurivabbhakūṭaṃ.
Your excellent seat, made of pure gold, swift as thought, goes wherever you desire. O you who are adorned, wearing garlands and fine garments, you shine like lightning upon a cloud peak.
“Cái ghế của ngài làm bằng vàng, cao quý, nhanh như ý, đi đến bất cứ nơi nào mong muốn. Này vị được trang hoàng, đeo vòng hoa, y phục đẹp đẽ, ngài tỏa sáng như tia chớp trên đỉnh mây.
16.
16.
16.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
By what kamma is your complexion such? By what kamma is it accomplished for you here? And for you arise possessions, whatever are dear to the mind.
“Do nhân gì dung sắc của ngài được như thế này? Do nhân gì ở đây ngài được thành tựu? Và các tài sản nào vừa ý đều sanh khởi cho ngài.
17.
17.
17.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I ask you, O devī of great power, what merit did you perform when you were a human being? By what kamma are you of such blazing power, and your complexion illuminates all directions?
“Tôi xin hỏi ngài, này thiên nữ có đại oai lực, khi là người ngài đã làm phước gì? Do nhân gì ngài có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương?”
18.
18.
18.
Sā devatā attamanā, moggallānena pucchitā;
Pañhaṃ puṭṭhā viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, pleased, questioned by Moggallāna, answered the question she was asked, explaining the kamma of which this is the fruit.
Vị thiên nữ ấy, lòng đầy hân hoan, được ngài Moggallāna hỏi; khi được hỏi câu hỏi, đã giải thích về nghiệp nào đã cho quả này.
19.
19.
19.
‘‘Appassa kammassa phalaṃ mamedaṃ †, yenamhi † evaṃ jalitānubhāvā;
Ahaṃ manussesu manussabhūtā, purimāya jātiyā manussaloke.
This is the fruit of a small kamma of mine, by which I am of such blazing power. I, among humans, was a human being in a former birth in the human world.
“Đây là quả của nghiệp nhỏ của tôi, do nhân đó tôi có oai lực rực rỡ như vậy. Tôi, khi là người giữa loài người, trong kiếp trước ở cõi người.
20.
20.
20.
‘‘Addasaṃ virajaṃ bhikkhuṃ, vippasannamanāvilaṃ;
Tassa adāsahaṃ pīṭhaṃ, pasannā sehi pāṇibhi.
I saw a stainless bhikkhu, serene and untroubled. With a confident mind, I gave him a seat with my own hands.
“Tôi đã thấy vị Tỳ khưu không còn bụi bẩn, tâm trong sạch không vẩn đục. Với lòng trong sạch, tôi đã tự tay cúng dường cái ghế cho vị ấy.
21.
21.
21.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo, tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā, ye keci manaso piyā.
Through that kamma my complexion is such; through that kamma it is accomplished for me here. And for me arise possessions, whatever are dear to the mind.
‘Do (nghiệp phước) ấy, sắc đẹp của tôi được như thế này, do (nghiệp phước) ấy, tại nơi này, (quả phước) của tôi được thành tựu; và các tài sản nào làm cho tâm ý hài lòng đều sanh khởi cho tôi.
22.
22.
22.
‘‘Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva, manussabhūtā yamakāsi puññaṃ;
Tenamhi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I declare to you, O bhikkhu of great power, what merit I performed when I was a human being. Through that kamma, I am of such blazing power, and my complexion illuminates all directions.
‘Bạch Tỳ-khưu có đại oai lực, tôi xin trình bày với ngài, khi là con người, tôi đã làm phước nghiệp nào; do (nghiệp phước) ấy, tôi có oai lực rực rỡ như thế này, và sắc đẹp của tôi chiếu sáng khắp mọi phương hướng.’
Tatiyapīṭhavimānaṃ tatiyaṃ.
The Third Dais-Mansion is concluded.
Thiên cung Ghế Ngồi thứ ba (kết thúc).
4. Catutthapīṭhavimānavatthu
4. The Story of the Fourth Dais-Mansion
4. Câu chuyện Thiên cung Ghế Ngồi thứ tư
23.
23.
23.
‘‘Pīṭhaṃ te veḷuriyamayaṃ uḷāraṃ, manojavaṃ gacchati yenakāmaṃ;
Alaṅkate malyadhare suvatthe, obhāsasi vijjurivabbhakūṭaṃ.
Your excellent seat, made of beryl, swift as thought, goes wherever you desire. O you who are adorned, wearing garlands and fine garments, you shine like lightning upon a cloud peak.
‘Ghế ngồi của cô làm bằng ngọc lưu ly, rộng lớn, nhanh như ý nghĩ, đi đến bất cứ nơi nào mong muốn; Này cô được trang điểm, đeo tràng hoa, mặc y phục đẹp, cô chiếu sáng như tia chớp trên đỉnh mây.
24.
24.
24.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
By what kamma is your complexion such? By what kamma is it accomplished for you here? And for you arise possessions, whatever are dear to the mind.
‘Do (nghiệp phước) nào, sắc đẹp của cô được như thế này? Do (nghiệp phước) nào, tại nơi này, (quả phước) của cô được thành tựu? Và các tài sản nào làm cho tâm ý hài lòng đều sanh khởi cho cô?
25.
25.
25.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I ask you, O devī of great power, what merit did you perform when you were a human being? By what kamma are you of such blazing power, and your complexion illuminates all directions?
‘Tôi hỏi cô, hỡi thiên nữ có đại oai lực, khi là con người, cô đã làm phước nghiệp gì? Do đâu cô có oai lực rực rỡ như thế này, và sắc đẹp của cô chiếu sáng khắp mọi phương hướng?’
26.
26.
26.
Sā devatā attamanā, moggallānena pucchitā;
Pañhaṃ puṭṭhā viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, pleased, questioned by Moggallāna, answered the question she was asked, explaining the kamma of which this is the fruit.
Vị thiên nữ ấy, tâm hoan hỷ, được ngài Moggallāna hỏi; được hỏi câu hỏi, đã giải đáp rằng quả này là của nghiệp nào.
27.
27.
27.
‘‘Appassa kammassa phalaṃ mamedaṃ, yenamhi evaṃ jalitānubhāvā;
Ahaṃ manussesu manussabhūtā, purimāya jātiyā manussaloke.
This is the fruit of a small kamma of mine, by which I am of such blazing power. I, among humans, was a human being in a former birth in the human world.
‘Quả này của tôi là quả của một nghiệp nhỏ, do đó tôi có oai lực rực rỡ như thế này; tôi, khi là con người giữa loài người, trong kiếp trước ở cõi người.
28.
28.
28.
‘‘Addasaṃ virajaṃ bhikkhuṃ, vippasannamanāvilaṃ;
Tassa adāsahaṃ pīṭhaṃ, pasannā sehi pāṇibhi.
I saw a stainless bhikkhu, serene and untroubled. With a confident mind, I gave him a seat with my own hands.
‘Tôi đã thấy một vị Tỳ-khưu không còn bụi bẩn, tâm trong sáng không vẩn đục; với tâm tín thành, tôi đã tự tay cúng dường ghế ngồi đến vị ấy.
29.
29.
29.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo, tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā, ye keci manaso piyā.
By that deed, my complexion is such as this; by that, it is accomplished for me here; and whatever enjoyments are dear to my mind arise for me.
‘Do (nghiệp phước) ấy, sắc đẹp của tôi được như thế này, do (nghiệp phước) ấy, tại nơi này, (quả phước) của tôi được thành tựu; và các tài sản nào làm cho tâm ý hài lòng đều sanh khởi cho tôi.
30.
30.
30.
‘‘Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva, manussabhūtā yamakāsi puññaṃ;
Tenamhi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I shall tell you, O bhikkhu of great power, what merit I performed when I was a human being. By that, I am of such radiant power, and my complexion illuminates all directions.
‘Bạch Tỳ-khưu có đại oai lực, tôi xin trình bày với ngài, khi là con người, tôi đã làm phước nghiệp nào; do (nghiệp phước) ấy, tôi có oai lực rực rỡ như thế này, và sắc đẹp của tôi chiếu sáng khắp mọi phương hướng.’
Catutthapīṭhavimānaṃ catutthaṃ.
The Fourth Seat Mansion, the fourth.
Thiên cung Ghế Ngồi thứ tư (kết thúc).