Bản dịch
VV 1 — Thiên Cung Chiếc Ghế thứ nhất
1. Paṭhamapīṭhavimānavatthu
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
BJT 1“Chiếc ghế của nàng làm bằng vàng, cao sang, di chuyển với tốc độ của tâm theo như ước muốn. Hỡi cô nàng đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, nàng chói sáng tựa như tia chớp ở đỉnh đám mây.
BJT 2Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 3Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 4Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 5“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã bố thí chỗ ngồi nhỏ cho những người khách đi đến. Tôi đã chào hỏi, đã chắp tay, và đã dâng vật thí tùy theo khả năng.
BJT 6Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 7Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Chiếc Ghế thứ nhất.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
The Pāḷi of the Vimānavatthu
Kinh Thiên Cung Sự
1. The Mansions of the Women
1. Thiên Cung Nữ Giới
1. Pīṭhavaggo
1. The Chapter on the Dais
1. Phẩm Cái Ghế
1. Paṭhamapīṭhavimānavatthu
1. The Story of the First Dais-Mansion
1. Câu Chuyện Thiên Cung Cái Ghế Thứ Nhất
1.
1.
1.
2.
2.
2.
3.
3.
3.
4.
4.
4.
5.
5.
5.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūtā, abbhāgatānāsanakaṃ adāsiṃ;
Abhivādayiṃ añjalikaṃ akāsiṃ, yathānubhāvañca adāsi dānaṃ.
I, being a human among humans, gave a small seat to guests; I paid homage, made the añjali gesture, and also gave a gift according to my means.
“Tôi, khi là người giữa loài người, đã cúng dường chỗ ngồi cho các vị khách đến. Tôi đã đảnh lễ, đã chắp tay, và đã bố thí tùy theo khả năng.
6.
6.
6.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo, tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā, ye keci manaso piyā.
Through that kamma my complexion is such; through that kamma it is accomplished for me here. And for me arise possessions, whatever are dear to the mind.
“Do nhân đó, dung sắc của tôi được như thế này. Do nhân đó, ở đây tôi được thành tựu. Và các tài sản nào vừa ý đều sanh khởi cho tôi.
7.
7.
7.
‘‘Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva, manussabhūtā yamakāsi puññaṃ;
Tenamhi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I declare to you, O monk of great power, what merit I performed when I was a human being. Through that kamma, I am of such blazing power, and my complexion illuminates all directions.
“Tôi xin trình bày với ngài, này Tỳ khưu có đại oai lực, về phước mà tôi đã làm khi là người. Do nhân đó, tôi có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương.”
Paṭhamapīṭhavimānaṃ paṭhamaṃ.
The First Dais-Mansion is concluded.
Thiên cung cái ghế thứ nhất.
2. Dutiyapīṭhavimānavatthu
2. The Story of the Second Dais-Mansion
2. Câu Chuyện Thiên Cung Cái Ghế Thứ Hai
8.
8.
8.
‘‘Pīṭhaṃ te veḷuriyamayaṃ uḷāraṃ, manojavaṃ gacchati yenakāmaṃ;
Alaṅkate malyadhare suvatthe, obhāsasi vijjurivabbhakūṭaṃ.
Your excellent seat, made of beryl, swift as thought, goes wherever you desire. O you who are adorned, wearing garlands and fine garments, you shine like lightning upon a cloud peak.
“Cái ghế của ngài làm bằng ngọc lưu ly, cao quý, nhanh như ý, đi đến bất cứ nơi nào mong muốn. Này vị được trang hoàng, đeo vòng hoa, y phục đẹp đẽ, ngài tỏa sáng như tia chớp trên đỉnh mây.
9.
9.
9.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
By what kamma is your complexion such? By what kamma is it accomplished for you here? And for you arise possessions, whatever are dear to the mind.
“Do nhân gì dung sắc của ngài được như thế này? Do nhân gì ở đây ngài được thành tựu? Và các tài sản nào vừa ý đều sanh khởi cho ngài.
10.
10.
10.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I ask you, O devī of great power, what merit did you perform when you were a human being? By what kamma are you of such blazing power, and your complexion illuminates all directions?
“Tôi xin hỏi ngài, này thiên nữ có đại oai lực, khi là người ngài đã làm phước gì? Do nhân gì ngài có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương?”
11.
11.
11.
Sā devatā attamanā, moggallānena pucchitā;
Pañhaṃ puṭṭhā viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, pleased, questioned by Moggallāna, answered the question she was asked, explaining the kamma of which this was the fruit.
Vị thiên nữ ấy, lòng đầy hân hoan, được ngài Moggallāna hỏi; khi được hỏi câu hỏi, đã giải thích về nghiệp nào đã cho quả này.
12.
12.
12.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūtā, abbhāgatānāsanakaṃ adāsiṃ;
Abhivādayiṃ añjalikaṃ akāsiṃ, yathānubhāvañca adāsi dānaṃ.
I, being a human among humans, gave a small seat to guests; I paid homage, made the añjali gesture, and also gave a gift according to my means.
“Tôi, khi là người giữa loài người, đã cúng dường chỗ ngồi cho các vị khách đến. Tôi đã đảnh lễ, đã chắp tay, và đã bố thí tùy theo khả năng.
13.
13.
13.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo, tena me idha mijjhati;
Uppajjanti ca me bhogā, ye keci manaso piyā.
Through that kamma my complexion is such; through that kamma it is accomplished for me here. And for me arise possessions, whatever are dear to the mind.
“Do nhân đó, dung sắc của tôi được như thế này. Do nhân đó, ở đây tôi được thành tựu. Và các tài sản nào vừa ý đều sanh khởi cho tôi.
14.
14.
14.
‘‘Akkhāmi te bhikkhu mahānubhāva, manussabhūtā yamakāsi puññaṃ;
Tenamhi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I declare to you, O monk of great power, what merit I performed when I was a human being. Through that kamma, I am of such blazing power, and my complexion illuminates all directions.
“Tôi xin trình bày với ngài, này Tỳ khưu có đại oai lực, về phước mà tôi đã làm khi là người. Do nhân đó, tôi có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương.”
Dutiyapīṭhavimānaṃ dutiyaṃ.
The Second Dais-Mansion is concluded.
Thiên cung cái ghế thứ hai.