Bản dịch
VV 3 — Thiên Cung Chiếc Ghế thứ ba
3. Tatiyapīṭhavimānavatthu
BJT 15“Chiếc ghế của nàng làm bằng vàng, cao sang, di chuyển với tốc độ của tâm theo như ước muốn. Hỡi cô nàng đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, nàng chói sáng tựa như tia chớp ở trên đỉnh đám mây.
BJT 16Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 17Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 18Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 19“Đây là quả báo của việc làm ít ỏi của tôi, do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy. Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, trong kiếp sống trước đây ở thế giới loài người, …
BJT 20… tôi đã nhìn thấy vị tỳ khưu, bậc vô nhiễm, thanh tịnh, không bị xao động. Được tịnh tín, tôi đã tự tay dâng chiếc ghế đến vị ấy.
BJT 21Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 22Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Chiếc Ghế thứ ba.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
43.
43.
43.
44.
44.
44.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
By what deed is your complexion such as this? By what is it accomplished for you here? And by what do whatever enjoyments dear to your mind arise for you?
‘Do (nghiệp phước) nào, sắc đẹp của cô được như thế này? Do (nghiệp phước) nào, tại nơi này, (quả phước) của cô được thành tựu? Và các tài sản nào làm cho tâm ý hài lòng đều sanh khởi cho cô?
45.
45.
45.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I ask you, O goddess of great power: when you were a human being, what merit did you perform? By what are you of such radiant power, and by what does your complexion illuminate all directions?
“Này thiên nữ có đại oai lực, tôi xin hỏi vị, khi là thân người vị đã làm phước gì? Do đâu vị có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của vị tỏa sáng khắp mọi phương?”
46.
46.
46.
Sā devatā attamanā, moggallānena pucchitā;
Pañhaṃ puṭṭhā viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That goddess, delighted at being questioned by Moggallāna, having been asked the question, explained of what deed this was the fruit.
Vị thiên nữ ấy, được ngài Moggallāna hỏi, với tâm hoan hỷ, đã giải thích câu hỏi được nêu ra, (về) nghiệp nào đã có quả này.
47.
47.
47.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūtā, purimāya jātiyā manussaloke;
Disvāna bhikkhū tasite kilante, uṭṭhāya pātuṃ udakaṃ adāsiṃ.
When I was a human being among humans, in a former birth in the human world, having seen bhikkhus who were thirsty and weary, I arose and gave them water to drink.
“Khi là thân người giữa nhân loại, trong kiếp trước ở thế gian, sau khi nhìn thấy các vị Tỳ khưu khát nước và mệt mỏi, tôi đã đứng dậy dâng cúng nước uống.”