Bản dịch
VV 19 — Thiên Cung của Lakhumā
2. Lakhumāvimānavatthu
BJT 171“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 172Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 173Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 174Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 175“‘Ra khỏi cửa thành Kevaṭṭa, đã là chỗ trú ngụ của tôi. Trong khi các bậc Thinh Văn, các vị đại ẩn sĩ, du hành ở nơi ấy, …
BJT 176… tôi đã bố thí cơm, bánh kem, rau tươi, cháo chua mặn, với tâm ý thanh tịnh ở những con người chính trực.
BJT 177Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 178Tôi đã hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Tôi cư ngụ ở tòa lâu đài, có sự tự kiềm chế, có sự san sẻ.
BJT 179Tôi kiêng chừa việc giết hại mạng sống, và thu thúc về việc nói dối, việc trộm cắp, việc tà hạnh, và xa lánh việc uống chất say.
BJT 180Tôi được vui thích ở năm điều học, là người thông hiểu các Chân Lý Cao Thượng, là nữ cư sĩ của đấng Hữu Nhãn Gotama có danh tiếng.
BJT 181Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 182Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.’
Thiên Cung của Lakhumā.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Lakhumāvimānavatthu
2. The Story of the Lakhumā Mansion
2. Câu chuyện về Thiên cung của Lakhumā
173.
173.
173.
‘‘Abhikkantena vaṇṇena, yā tvaṃ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā, osadhī viya tārakā.
O deity, you who stand with a most pleasing complexion, illuminating all directions, like the morning star.
“Này thiên nữ, ngài đứng đó với dung sắc tuyệt vời, tỏa sáng khắp mọi phương trời, như sao mai Osadhī.
174.
174.
174.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
By what has such a complexion arisen for you? By what are you prosperous here? And by what do those enjoyments arise for you, whatsoever are dear to the mind?
“Do nhân gì dung sắc của ngài được như vậy? Do nhân gì ngài được thành tựu ở đây? Và do nhân gì các tài sản làm vừa lòng ý của ngài được sanh khởi?
175.
175.
175.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I ask you, O devī of great power: when you were a human being, what merit did you make? By what are you of such radiant power, and by what does your complexion illuminate all directions?
“Tôi xin hỏi ngài, hỡi thiên nữ đại thần lực, khi còn là người, ngài đã làm phước gì? Do đâu ngài có được uy lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của ngài tỏa sáng khắp mọi phương?”
176.
176.
176.
Sā devatā attamanā, moggallānena pucchitā;
Pañhaṃ puṭṭhā viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, with a delighted mind, being questioned by Moggallāna, answered the question asked, explaining of which kamma this was the fruit.
Vị thiên nữ ấy, lòng đầy hoan hỷ, được ngài Moggallāna hỏi, khi được hỏi câu hỏi, đã giải thích về nghiệp nào đã cho quả này.
177.
177.
177.
‘‘Kevaṭṭadvārā nikkhamma, ahu mayhaṃ nivesanaṃ;
Tattha sañcaramānānaṃ, sāvakānaṃ mahesinaṃ.
My dwelling was situated upon exiting the Kevaṭṭa gate. There, for the disciples of the Great Seeker who were coming and going,
“Nhà của tôi ở lối ra của cổng Kevaṭṭa. Tại nơi đó, đối với các vị đệ tử, những bậc đại sĩ thường qua lại,
178.
178.
178.
‘‘Odanaṃ kummāsaṃ † ḍākaṃ, loṇasovīrakañcahaṃ;
Adāsiṃ ujubhūtesu, vippasannena cetasā.
I gave cooked rice, barley-cakes, vegetables, and salt-sour gruel to the upright ones with a specially serene mind.
“tôi đã dâng cúng cơm, cháo lúa mạch, rau, và nước giấm lúa mạch, với tâm trong sạch tín thành, đến các bậc chánh trực.
179.
179.
179.
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāgataṃ.
On the fourteenth, the fifteenth, and on the eighth day of the fortnight, and also on the special observance days, endowed with the eight precepts,
“Vào ngày mười bốn, ngày rằm, và ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và vào ngày Bố-tát đặc biệt, (tôi đã thọ trì) Bát quan trai giới đầy đủ.
180.
180.
180.
‘‘Uposathaṃ upavasissaṃ, sadā sīlesu saṃvutā;
Saññamā saṃvibhāgā ca, vimānaṃ āvasāmahaṃ.
I undertook the Uposatha, and was always restrained in the precepts. Through restraint and sharing, I inhabit this celestial mansion.
“Tôi đã thọ trì ngày Bố-tát, luôn luôn thu thúc trong giới hạnh. Nhờ sự tự chế và san sẻ, tôi được ở trong thiên cung này.
181.
181.
181.
‘‘Pāṇātipātā viratā, musāvādā ca saññatā;
Theyyā ca aticārā ca, majjapānā ca ārakā.
I was abstinent from the destruction of life, and restrained from false speech. I kept far from theft, sexual misconduct, and the consumption of intoxicants.
“Tôi đã từ bỏ sát sanh, chế ngự lời nói dối, xa lánh trộm cắp, tà hạnh, và uống rượu.
182.
182.
182.
‘‘Pañcasikkhāpade ratā, ariyasaccāna kovidā;
Upāsikā cakkhumato, gotamassa yasassino.
Delighting in the five training precepts, skilled in the noble truths, I was a female lay disciple of the Visionary, the renowned Gotama.
“Tôi hoan hỷ trong năm học giới, thông hiểu các Thánh đế, là một nữ cận sự của đức Gotama, bậc có Mắt, bậc danh tiếng.
183.
183.
183.
‘‘Tena metādiso vaṇṇo…pe… vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatīti.
By that kamma, my complexion is like this… and my complexion illuminates all directions.
“Do nhân đó, dung sắc của tôi được như vậy... v.v... và dung sắc của tôi tỏa sáng khắp mọi phương.”
‘‘Mama ca, bhante, vacanena bhagavato pāde sirasā vandeyyāsi – ‘lakhumā nāma,bhante,upāsikā bhagavato pāde sirasā vandatī’ti. Anacchariyaṃ kho panetaṃ, bhante, yaṃ maṃ bhagavā aññatarasmiṃ sāmaññaphale byākareyya †. Taṃ bhagavā sakadāgāmiphale byākāsī’’ti.
“And, Venerable Sir, with my words you should pay homage with your head to the Blessed One’s feet, saying: ‘Venerable Sir, the female lay disciple named Lakhumā pays homage with her head to the Blessed One’s feet.’ It is indeed not surprising, Venerable Sir, if the Blessed One were to declare me as having attained one of the fruits of recluseship.” The Blessed One had declared her as having attained the fruit of a once-returner.
“Bạch Đại đức, xin ngài nhân danh con, cúi đầu đảnh lễ chân Đức Thế Tôn và thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, nữ cận sự tên Lakhumā xin cúi đầu đảnh lễ chân Ngài.’ Bạch Đại đức, thật không có gì đáng ngạc nhiên nếu Đức Thế Tôn tuyên bố rằng con đã chứng một trong các quả Sa-môn. Và Đức Thế Tôn đã tuyên bố rằng vị ấy đã chứng quả Nhất lai.”
Lakhumāvimānaṃ dutiyaṃ.
The Second Story of the Lakhumā Mansion is concluded.
Thiên cung của Lakhumā, phẩm thứ hai.