Bản dịch
VV 18 — Thiên Cung của Người Nữ Tỳ
1. Dāsivimānavatthu
BJT 156“Cũng tựa như Sakka Chúa của chư Thiên, nàng dẫn đầu đám phụ nữ đi dạo xung quanh ở khu vườn Cittalatā đáng yêu, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, giống như ngôi sao osadhī.
BJT 157Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 158Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 159Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 160“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã là người nữ tỳ, kẻ hầu hạ những người khác trong gia đình. Là nữ cư sĩ của đấng Hữu Nhãn Gotama có danh tiếng, tôi đây đã có sự nỗ lực theo lời dạy của vị như thế ấy.
BJT 161Hãy để cho thân thể này bị rã tan theo ý định, chớ không bao giờ có sự lơi lỏng ở đây. Con đường của năm điều học là có sự tốt lành, an toàn.
BJT 162(Là con đường) không gai góc, không chằng chịt, thẳng tắp, đã được chỉ ra bởi các bậc đức hạnh. Hãy nhìn xem kết quả của sự nỗ lực qua sự việc mà cô gái đã đạt được:
BJT 163Tôi là ái hậu của Thiên Vương Sakka có sự nắm giữ quyền uy. Có sáu mươi ngàn nhạc cụ làm công việc tiêu khiển cho tôi.
BJT 164(Các nhạc công nam) Ālamba, Gaggara, Bhīma, Sādhuvādī, Saṁsaya, Pokkhara, và Suphassa, còn các tiên nữ là Vīṇā, Mokkhā, …
BJT 165… Nandā, luôn cả Sunandā, Soṇadinnā, Sucimhitā, Alambusā, Missakesī, và cô tiên dữ tợn ‘Puṇḍarīkā,’ …
BJT 166… Eṇiphassā, và Suphassā, Subhaddā, và Muduvādinī, các cô này và các cô khác là những người làm công việc tiêu khiển giỏi hơn hết trong số các Thiên nhân.
BJT 167Vào thời điểm thích hợp, các Thiên nhân tự nguyện đi đến thưa rằng: ‘Nào, hãy để chúng tôi múa, hãy để chúng tôi ca. Nào, hãy để chúng tôi làm cho nàng thích thú.’
BJT 168(Khu vườn) Nandana không sầu muộn đáng yêu này, khu vườn lớn ở cõi Ba Mươi (Ba), là không dành cho những người không làm phước thiện, nơi này chỉ dành cho những người đã làm phước thiện.
BJT 169Không có sự an lạc cho những người không làm phước thiện ở nơi này và nơi khác; nhưng có sự an lạc cho những người đã làm phước thiện ở chính nơi này và nơi khác nữa.
BJT 170Đối với những người mong mỏi sự cộng trú ấy thì nên làm nhiều việc tốt lành, bởi vì những người đã làm phước thiện là những người thành tựu tài sản, được vui sướng ở cõi Trời.”
Thiên Cung của Người Nữ Tỳ.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Translated by Bhikkhu Indacanda, 2011. Based on the Buddha Jayanthi edition of the Pali canon, as corrected by Bhikkhu Indacanda. Full text, translation, and notes are available at the translator’s website: http://tamtangpaliviet.net/. Used by kind permission of the translator. Prepared for SuttaCentral by Blake Walsh.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bản dịch AI (OpenTipitaka) · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
2. Cittalatāvaggo
2. The Cittalatā Chapter
2. Phẩm Cittalatā
1. Dāsivimānavatthu
1. The Story of the Maidservant's Celestial Mansion
1. Câu chuyện về thiên cung của người nữ tỳ
157.
157.
157.
‘‘Api sakkova devindo, ramme cittalatāvane;
Samantā anupariyāsi, nārīgaṇapurakkhatā;
Obhāsentī disā sabbā, osadhī viya tārakā.
Just as Sakka, the lord of devas, wanders in the delightful Cittalatā grove, so you, surrounded by a host of celestial maidens, wander all around, illuminating all directions like the morning star.
Giống như Đế Thích, vua của các vị trời, nàng đi dạo khắp nơi trong khu rừng Cittalatā xinh đẹp, được đoàn tiên nữ vây quanh; nàng chiếu sáng khắp mọi phương, như sao mai.
158.
158.
158.
‘‘Kena tetādiso vaṇṇo, kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā, ye keci manaso piyā.
By what has such a complexion arisen for you? By what are you prosperous here? And by what do those enjoyments arise for you, whatsoever are dear to the mind?
Do đâu mà nàng có dung sắc như vậy? Do đâu mà ở đây nàng được thành tựu? Và do đâu mà các tài sản, bất cứ thứ gì vừa ý, lại phát sinh cho nàng?
159.
159.
159.
‘‘Pucchāmi taṃ devi mahānubhāve, manussabhūtā kimakāsi puññaṃ;
Kenāsi evaṃ jalitānubhāvā, vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī’’ti.
I ask you, O devī of great power: when you were a human being, what merit did you make? By what are you of such radiant power, and by what does your complexion illuminate all directions?
Thưa thiên nữ có đại oai lực, tôi xin hỏi nàng: khi còn là người, nàng đã làm phước gì? Do đâu mà nàng có oai lực rực rỡ như vậy, và dung sắc của nàng chiếu sáng khắp mọi phương?
160.
160.
160.
Sā devatā attamanā, moggallānena pucchitā;
Pañhaṃ puṭṭhā viyākāsi, yassa kammassidaṃ phalaṃ.
That devatā, with a delighted mind, being questioned by Moggallāna, answered the question asked, explaining of which kamma this was the fruit.
Thiên nữ ấy, với tâm hoan hỷ, được ngài Moggallāna hỏi, đã giải đáp câu hỏi được đặt ra, về nghiệp nào đã đưa đến quả báo này.
161.
161.
161.
‘‘Ahaṃ manussesu manussabhūtā, dāsī ahosiṃ parapessiyā † kule.
When I was a human being among humans, I was a maidservant in the family of another, at their bidding.
Khi con là người giữa cõi người, con là một nữ tỳ trong gia đình của người khác, phải làm theo sự sai khiến.
162.
162.
162.
‘‘Upāsikā cakkhumato, gotamassa yasassino;
Tassā me nikkamo āsi, sāsane tassa tādino.
I was a female lay disciple of the Visionary Gotama, the renowned one. For me, there was striving in the dispensation of that 'Such-like One'.
Con là nữ cận sự của đấng Gotama, bậc có mắt tuệ, đấng danh tiếng. Con đã có sự nỗ lực trong giáo pháp của Ngài, bậc Như Nhiên.
163.
163.
163.
‘‘Kāmaṃ bhijjatuyaṃ kāyo, neva atthettha saṇṭhanaṃ †;
Sikkhāpadānaṃ pañcannaṃ, maggo sovatthiko sivo.
Let this body break up as it may; in this, there was no slackening of effort. The path of the five training rules is for one's welfare and is safe.
Mặc cho thân này tan rã, ở đây không có sự buông lơi. Con đường của năm học giới là con đường đưa đến an lạc, an ổn.
164.
164.
164.
‘‘Akaṇṭako agahano, uju sabbhi pavedito;
Nikkamassa phalaṃ passa, yathidaṃ pāpuṇitthikā.
It is a path without thorns, without thickets, straight, and proclaimed by the virtuous. Behold the fruit of striving, how even a woman has attained it!
Không chông gai, không rậm rạp, thẳng tắp, được các bậc thiện nhân (Thánh nhân) tuyên thuyết; hãy xem quả của sự nỗ lực này, khi một người phụ nữ đã đạt đến (Thánh đạo) như thế này.
165.
165.
165.
‘‘Āmantanikā raññomhi, sakkassa vasavattino;
Saṭṭhi turiya † sahassāni, paṭibodhaṃ karonti me.
I am one who is summoned by the king, Sakka, the sovereign. Sixty thousand musical instruments serve to awaken me.
Con là người được vua Đế Thích, đấng tự tại, triệu tập. Sáu mươi ngàn nhạc cụ đánh thức con trong niềm vui.
166.
166.
166.
‘‘Ālambo gaggaro † bhīmo †, sādhuvādī ca saṃsayo;
Pokkharo ca suphasso ca, viṇāmokkhā † ca nāriyo.
The drums Ālamba, Gaggara, Bhīma, Sādhuvādī, Saṃsaya, Pokkhara, and Suphassa; and the celestial maidens named Viṇāmokkhā.
Trống Ālamba, Gaggara, Bhīma, Sādhuvādī và Saṃsaya, Pokkhara và Suphassa, cùng các thiên nữ Vilāmokkhā.
167.
167.
167.
‘‘Nandā ceva sunandā ca, soṇadinnā sucimhitā †;
Alambusā missakesī ca, puṇḍarīkāti dāruṇī.
Nandā and Sunandā, Soṇadinnā, Sucimhitā, Alambusā and Missakesī, Puṇḍarīkā and Atidāruṇī.
Nàng Nandā, Sunandā, Soṇadinnā, Sucimhitā, Alambusā, Missakesī, Puṇḍarīkā và Atidāruṇī.
168.
168.
168.
‘‘Eṇīphassā suphassā ca, subhaddā muduvādinī;
Etā caññā ca seyyāse, accharānaṃ pabodhikā.
Eṇīphassā and Suphassā, Subhaddā, Muduvādinī—these and other celestial maidens, the most excellent, are my awakeners.
Nàng Eṇīphassā, Suphassā, Subhaddā, người nói lời dịu dàng; những vị này và các thiên nữ ưu tú khác là những vị đánh thức (hỷ lạc trong tôi).
169.
169.
169.
‘‘Tā maṃ kālenupāgantvā, abhibhāsanti devatā;
Handa naccāma gāyāma, handa taṃ ramayāmase.
Those devatās, approaching me at the proper time, address me thus: 'Come, let us dance, let us sing! Come, let us delight you!'
“Vào thời điểm thích hợp, các vị thiên nữ ấy đến gần tôi và nói rằng: ‘Nào, chúng ta hãy nhảy múa, chúng ta hãy ca hát, nào, chúng ta hãy làm cho ngài vui thích.’
170.
170.
170.
‘‘Nayidaṃ akatapuññānaṃ, katapuññānamevidaṃ;
Asokaṃ nandanaṃ rammaṃ, tidasānaṃ mahāvanaṃ.
This is not for those who have not made merit; this is only for those who have made merit. This great forest of the Tāvatiṃsa devas, the Nandana grove, is sorrowless and delightful.
“Khu đại lâm này của chư thiên Ba Mươi Ba, không sầu muộn, vui thú, và khả ái, không phải dành cho người không có phước, mà chỉ dành cho người đã tạo phước.
171.
171.
171.
‘‘Sukhaṃ akatapuññānaṃ, idha natthi parattha ca;
Sukhañca katapuññānaṃ, idha ceva parattha ca.
For those who have not made merit, there is no happiness either here or in the hereafter; but for those who have made merit, there is happiness both here and in the hereafter.
“Đối với người không có phước, không có hạnh phúc ở đời này và đời sau. Còn đối với người đã tạo phước, có hạnh phúc cả ở đời này và đời sau.
172.
172.
172.
‘‘Tesaṃ sahabyakāmānaṃ, kattabbaṃ kusalaṃ bahuṃ;
Katapuññā hi modanti, sagge bhogasamaṅgino’’ti.
For those who desire their companionship, much that is wholesome should be done. Indeed, those who have made merit rejoice in the celestial realm, endowed with enjoyments.
“Những ai mong muốn được đồng hành cùng chư vị ấy, cần phải làm nhiều điều thiện. Quả vậy, những người đã tạo phước được hoan hỷ trên cõi trời, hưởng đầy đủ tài sản.”
Dāsivimānaṃ paṭhamaṃ.
The First Story of the Maidservant's Mansion is concluded.
Thiên cung của người nữ tỳ, phẩm thứ nhất.