- Udāna 7.6
Taṇhāsaṅkhayasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Taṇhāsaṅkhayasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Aññāta-koṇḍañña ngồi ở nơi không xa đức Thế Tôn, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, đang quán xét lại sự giải thoát do diệt tận tham ái. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy đại đức Aññātakoṇḍañña ngồi ở nơi không xa, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, đang quán xét lại sự giải thoát do diệt tận tham ái.
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Đối với người nào không có các rễ cây, nền đất, không có các lá cây, từ đâu mà có dây leo? Ai có khả năng để chê trách bậc sáng trí ấy, là vị đã được thoát khỏi sự trói buộc; chư Thiên cũng ca ngợi vị ấy, vị ấy còn được ca ngợi bởi đấng Phạm Thiên nữa.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
6. Kinh Sự Đoạn Tận Ái Dục
66. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika tại Jetavana. Bấy giờ, Tôn giả Aññāsikoṇḍañña đang ngồi không xa đức Thế Tôn, xếp bằng, giữ thân thẳng, quán xét sự giải thoát do đoạn tận ái dục.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ aññāsikoṇḍaññaṁ avidūre nisinnaṁ pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ paccavekkhamānaṁ.
The Buddha saw him meditating there.
Đức Thế Tôn đã thấy Tôn giả Aññāsikoṇḍañña đang ngồi không xa, xếp bằng, giữ thân thẳng, quán xét sự giải thoát do đoạn tận ái dục.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi liễu tri ý nghĩa ấy, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Yassa mūlaṁ chamā natthi, paṇṇā natthi kuto latā; Taṁ dhīraṁ bandhanā muttaṁ, ko taṁ ninditumarahati; Devāpi naṁ pasaṁsanti, brahmunāpi pasaṁsito”ti.
Chaṭṭhaṁ.
“There is no root or ground or leaves for them, so where would creepers sprout from? That attentive one is released from bonds: who is worthy to criticize them? Even the gods praise them, and by the Divinity, too, they’re praised.”
“Người nào không có gốc rễ trên mặt đất, không có lá, thì làm sao có dây leo? Bậc trí tuệ ấy, đã giải thoát khỏi mọi trói buộc, ai có thể chê bai được? Chư thiên cũng tán thán vị ấy, và Phạm thiên cũng tán thán.” (Kinh thứ sáu)