- Udāna 7.5
Aparalakuṇḍakabhaddiyasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Aparalakuṇḍakabhaddiyasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Lakuṇṭaka-bhaddiya, theo sau nhiều vị tỳ khưu, đã đi đến gặp đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy đại đức Lakuṇṭakabhaddiya từ ở đằng xa, đang đi theo sau nhiều vị tỳ khưu, xấu tướng, khó nhìn, có vẻ bị xem thường bởi phần đông các vị tỳ khưu. Sau khi nhìn thấy, đức Thế Tôn đã bảo các vị tỳ khưu rằng: “Này các tỳ khưu, các ngươi có nhìn thấy vị tỳ khưu này từ ở đằng xa, đang đi theo sau nhiều vị tỳ khưu, xấu tướng, khó nhìn, có vẻ bị xem thường bởi phần đông các vị tỳ khưu?”
2. “Bạch Ngài, đúng vậy.” “Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này có đại thần lực, có đại oai lực. Và sự chứng đạt nào còn chưa được vị tỳ khưu ấy chứng đạt trước đây thì sự chứng đạt ấy không phải là dễ dàng đạt được. Vị ấy, ngay trong kiếp hiện tại, nhờ vào thắng trí của mình, chứng ngộ, đạt đến, và an trú vào cứu cánh tối thượng của Phạm hạnh, vì mục đích này mà những người con trai của các gia đình cao quý rời nhà xuất gia một cách chân chánh sống không nhà.”
3. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Không chút lỗi lầm, có mái che màu trắng, chiếc xe có một căm lăn bánh. Hãy nhìn vị đang từ từ đi đến, vị không phiền muộn, có dòng chảy đã bị chặt đứt, không còn sự trói buộc.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
5. Kinh Khác Về Lakuṇḍaka Bhaddiya
65. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika tại Jetavana. Bấy giờ, Tôn giả Lakuṇḍaka Bhaddiya đi theo sau lưng, sau lưng của nhiều vị tỳ khưu, đến nơi đức Thế Tôn đang ở.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ lakuṇḍakabhaddiyaṁ dūratova sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ piṭṭhito piṭṭhito āgacchantaṁ dubbaṇṇaṁ duddasikaṁ okoṭimakaṁ yebhuyyena bhikkhūnaṁ paribhūtarūpaṁ. Disvāna bhikkhū āmantesi:
The Buddha saw Venerable Bhaddiya coming off in the distance—ugly, unsightly, deformed, and despised by most of the mendicants. The Buddha addressed the mendicants:
Đức Thế Tôn từ xa đã thấy Tôn giả Lakuṇḍaka Bhaddiya đang đi đến, theo sau lưng, sau lưng của nhiều vị tỳ khưu, với dung sắc xấu xí, khó nhìn, thân hình thấp lùn, và thường bị các tỳ khưu xem thường. Sau khi thấy vậy, Ngài gọi các tỳ khưu:
“Passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ bhikkhuṁ dūratova sambahulānaṁ bhikkhūnaṁ piṭṭhito piṭṭhito āgacchantaṁ dubbaṇṇaṁ duddasikaṁ okoṭimakaṁ yebhuyyena bhikkhūnaṁ paribhūtarūpan”ti? “Evaṁ, bhante”ti.
“Mendicants, do you see this monk coming—ugly, unsightly, deformed, and despised by most of the mendicants?” “Yes, sir.”
“Này các tỳ khưu, các ông có thấy vị tỳ khưu kia từ xa đang đi đến, theo sau lưng, sau lưng của nhiều vị tỳ khưu, với dung sắc xấu xí, khó nhìn, thân hình thấp lùn, và thường bị các tỳ khưu xem thường không?” “Bạch Thế Tôn, vâng, chúng con thấy.”
“Eso, bhikkhave, bhikkhu mahiddhiko mahānubhāvo. Na ca sā samāpatti sulabharūpā yā tena bhikkhunā asamāpannapubbā. Yassa catthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
“That mendicant is very mighty and powerful. It’s not easy to find an attainment that he has not already attained. And he has realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lives having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.”
“Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu này có đại thần lực, có đại oai đức. Không có định nào mà vị tỳ khưu ấy chưa từng chứng đắc mà lại dễ dàng chứng đắc. Và mục đích tối thượng của phạm hạnh, vì mục đích ấy mà các thiện nam tử chân chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đã tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại.”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi liễu tri ý nghĩa ấy, vào lúc ấy, đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Nelaṅgo setapacchādo, ekāro vattatī ratho; Anīghaṁ passa āyantaṁ, chinnasotaṁ abandhanan”ti.
Pañcamaṁ.
“With faultless parts and white canopy, the one-spoked chariot rolls on. See it come, untroubled, with stream cut, unbound.”
“Cỗ xe với vành xe không tì vết, với mái che màu trắng, với một trục duy nhất, đang lăn bánh. Hãy nhìn người đang đến, không phiền não, đã cắt đứt dòng chảy, không còn trói buộc.” (Kinh thứ năm)