- Udāna 5.9
Sadhāyamānasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Sadhāyamānasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn đi du hành ở xứ sở của những người Kosala cùng với đại chúng tỳ khưu. Vào lúc bấy giờ, nhiều thanh niên Bà-la-môn đi ngang qua ở nơi không xa đức Thế Tôn có vẻ đang nhạo báng. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy nhiều thanh niên Bà-la-môn đang đi ngang qua ở nơi không xa có vẻ đang nhạo báng.
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Những kẻ bị lẫn lộn, làm ra vẻ người sáng suốt, có lời phát biểu thuộc lãnh vực của lời nói (mà không hiểu nghĩa), có miệng há rộng theo như chúng muốn; điều gì dẫn dắt chúng thì chúng không biết.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
9. Kinh Sadhāyamāna
49. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn đang du hành ở xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ khưu. Vào lúc ấy, có nhiều thanh niên đi ngang qua không xa Thế Tôn, với vẻ chế giễu, đùa cợt. Thế Tôn đã trông thấy nhiều thanh niên đi ngang qua không xa, với vẻ chế giễu, đùa cợt.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Lúc bấy giờ, Thế Tôn sau khi liễu tri được ý nghĩa ấy, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Parimuṭṭhā paṇḍitābhāsā, vācāgocarabhāṇino; Yāvicchanti mukhāyāmaṁ, yena nītā na taṁ vidū”ti.
Navamaṁ.
“Dolts pretending to be astute, they talk, their words out of bounds. They blab at will, their mouths agape, and no one knows what leads them on.”
“Thất niệm, ra vẻ trí thức, lời nói là nơi rong chơi, chúng muốn mở miệng bao nhiêu tùy thích, nhưng không biết mình bị dẫn dắt bởi điều gì.” Hết bài kinh thứ chín.