- Udāna 5.10
Cūḷapanthakasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Cūḷapanthakasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Cullapanthaka ngồi ở nơi không xa đức Thế Tôn, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, và thiết lập niệm luôn hiện diện. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy đại đức Cullapanthaka ngồi ở nơi không xa, xếp chân thế kiết già, giữ thân thẳng, và thiết lập niệm luôn hiện diện.
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Với thân vững chãi, với tâm vững chãi,
dầu đang đứng, hoặc đã ngồi xuống, hay đang nằm,
vị tỳ khưu duy trì vững chắc niệm như vậy
có thể đạt được sự chứng đắc theo tuần tự.
Sau khi đạt được sự chứng đắc theo tuần tự,
có thể đi đến nơi ngoài tầm nhìn của Thần Chết.”
Phẩm Soṇa là thứ năm.
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
10. Kinh Cūḷapanthaka
50. Tôi nghe như vầy: Một thời, Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, trong khu vườn của Anāthapiṇḍika. Vào lúc ấy, Tôn giả Cūḷapanthaka đang ngồi không xa Thế Tôn, ngồi kiết già, giữ thân thẳng, an trú niệm trước mặt.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ cūḷapanthakaṁ avidūre nisinnaṁ pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
The Buddha saw him meditating there.
Thế Tôn đã trông thấy Tôn giả Cūḷapanthaka đang ngồi không xa, ngồi kiết già, giữ thân thẳng, an trú niệm trước mặt.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Lúc bấy giờ, Thế Tôn sau khi liễu tri được ý nghĩa ấy, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Ṭhitena kāyena ṭhitena cetasā, Tiṭṭhaṁ nisinno uda vā sayāno; Etaṁ satiṁ bhikkhu adhiṭṭhahāno, Labhetha pubbāpariyaṁ visesaṁ; Laddhāna pubbāpariyaṁ visesaṁ, Adassanaṁ maccurājassa gacche”ti.
Dasamaṁ.
Soṇavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
“Steady in body, steady in mind, standing, sitting or lying down: a mendicant focusing on this mindfulness gains an ever higher distinction. And when they have done so, they vanish from the King of Death.”
“Với thân vững trú, với tâm vững trú, dù đứng, ngồi, hay nằm, vị Tỳ khưu an trú niệm như vậy, sẽ đạt được sự thù thắng trước sau. Sau khi đạt được sự thù thắng trước sau, sẽ đi đến nơi Tử Vương không thấy.” Hết bài kinh thứ mười.
Piyo appāyukā kuṭṭhī, kumārakā uposatho; Soṇo ca revato bhedo, sadhāya panthakena cāti.
Piyo, Appāyukā, Kuṭṭhī, Kumārakā, Uposatho; Soṇa và Revata, Bhedo, Sadhāya, và Panthaka.