- Udāna 5.2
Appāyukasutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Appāyukasutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy vào buổi chiều, đại đức Ānanda, xuất khỏi thiền tịnh, đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, đại đức Meghiya đã nói với đức Thế Tôn điều này:
“Bạch Ngài, thật là kỳ diệu! Bạch Ngài, thật là phi thường! Bạch Ngài, mẹ của đức Thế Tôn có tuổi thọ ít ỏi đến chừng ấy. Khi đức Thế Tôn được sanh ra bảy ngày, mẹ của đức Thế Tôn đã từ trần, và đã được sanh về tập thế cõi Đẩu Suất.”
“Này Ānanda, điều ấy là như vậy. Này Ānanda, những người mẹ của các đức Bồ Tát quả là có tuổi thọ ít ỏi, khi các đức Bồ Tát được sanh ra bảy ngày, những người mẹ của các đức Bồ Tát từ trần, và được sanh về tập thể cõi Đẩu Suất.”
2. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Tất cả mọi loài đã được sanh hoặc sẽ được sanh ra,
tất cả sẽ ra đi sau khi buông bỏ thân xác.
Sau khi biết được mọi sự mất mát ấy, bậc thiện xảo
có nhiệt tâm nên thực hành Phạm hạnh.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
2. Kinh Appāyuka (Đoản Thọ)
42. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong khu vườn của ông Anāthapiṇḍika ở Jetavana. Bấy giờ, vào buổi chiều, Tôn giả Ānanda từ nơi độc cư đứng dậy, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda bạch với đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu! Bạch Thế Tôn, thật hy hữu! Bạch Thế Tôn, mẹ của đức Thế Tôn thật là đoản thọ, sau khi đức Thế Tôn đản sanh được bảy ngày thì mẹ của đức Thế Tôn mệnh chung, sanh vào cõi trời Tusita.”
“Evametaṁ, ānanda, appāyukā hi, ānanda, bodhisattamātaro honti. Sattāhajātesu bodhisattesu bodhisattamātaro kālaṁ karonti, tusitaṁ kāyaṁ upapajjantī”ti.
“That’s so true, Ānanda! For the mothers of beings intent of awakening are short-lived. Seven days after the beings intent on awakening are born, their mothers pass away and are reborn in the host of joyful gods.”
“Này Ānanda, đúng vậy. Này Ānanda, các vị mẹ của Bồ-tát thường đoản thọ. Sau khi các vị Bồ-tát đản sanh được bảy ngày thì các vị mẹ của Bồ-tát mệnh chung, sanh vào cõi trời Tusita.”
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, đức Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Ye keci bhūtā bhavissanti ye vāpi, Sabbe gamissanti pahāya dehaṁ; Taṁ sabbajāniṁ kusalo viditvā, Ātāpiyo brahmacariyaṁ careyyā”ti.
Dutiyaṁ.
“Whether born or to be born, all depart, leaving the body behind. The skillful, understanding that all is lost, would keenly practice the spiritual life.”
“Bất cứ chúng sanh nào đã từng hiện hữu, hoặc sẽ hiện hữu, tất cả đều sẽ ra đi, từ bỏ thân xác này. Người thiện xảo, biết rõ sự mất mát tất cả ấy, nên nhiệt tâm thực hành phạm hạnh.” (Kết thúc) bài kinh thứ hai.