- Udāna 5.3
Suppabuddhakuṭṭhisutta
Evaṁ me sutaṁ—
Bản dịch
Suppabuddhakuṭṭhisutta
1. Tôi đã nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, ở Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, ở Rājagaha gã cùi tên Suppabuddha đã là người nghèo khó nhất, khốn khổ nhất, bần cùng nhất.
2. Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, được vây quanh bởi hội chúng đông đảo, đang ngồi thuyết Pháp. Gã cùi Suppabuddha đã nhìn thấy từ đằng xa đám đông người tụ hội lại, sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: “Chắc chắn là ở đây có vật thực cứng hay vật thực mềm gì đó sẽ được phân phát! Có lẽ ta nên đi đến gần đám đông người ấy, có lẽ ở đây ta có thể nhận được vật thực cứng hay vật thực mềm gì đó.”
3. Sau đó, gã cùi Suppabuddha đã đi đến gần đám đông người ấy. Gã cùi Suppabuddha đã nhìn thấy đức Thế Tôn, được vây quanh bởi hội chúng đông đảo, đang ngồi thuyết Pháp. Sau khi nhìn thấy, gã ấy đã khởi ý điều này: “Ở đây, không có vật thực cứng hay vật thực mềm gì đó được phân phát! Vị Sa-môn Gotama này thuyết Pháp cho hội chúng. Có lẽ ta cũng nên nghe Pháp.” Rồi đã ngồi xuống ngay tại chỗ ấy (nghĩ rằng): “Ta cũng sẽ nghe Pháp.” Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi dùng tâm biết được tâm toàn thể hội chúng, đã tác ý rằng: “Ở đây người nào có khả năng hiểu được Giáo Pháp?”
4. Đức Thế Tôn đã nhìn thấy gã cùi Suppabuddha đang ngồi ở hội chúng ấy, sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: “Ở đây người này có khả năng hiểu được Giáo Pháp.” Và Ngài đã thuyết Pháp theo thứ lớp liên quan đến gã cùi Suppabuddha. Tức là Ngài đã giảng giải bài thuyết về bố thí, bài thuyết về giới, bài thuyết về cõi Trời, sự tai hại sự thấp kém sự ô nhiễm của các dục, sự lợi ích của việc xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết được tâm của gã cùi Suppabuddha đã sẵn sàng, dễ uốn nắn, không còn chướng ngại, hướng thượng, tịnh tín, Ngài đã phô bày Pháp thuyết giảng đã được Chư Phật khai mở là: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Cũng giống như tấm vải đã được làm sạch, không còn vết nhơ, có thể nhuộm màu một cách toàn vẹn; tương tự như thế, ngay tại chỗ ngồi ấy Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến gã cùi Suppabuddha: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”
5. Sau đó, khi đã thấy được Pháp, đã thành tựu được Pháp, đã hiểu được Pháp, đã thấm nhuần Pháp, hoài nghi đã không còn, sự lưỡng lự đã dứt hẳn, đã thành tựu niềm tin vào Giáo Pháp của bậc Đạo Sư, không còn cần sự trợ duyên của người khác, gã cùi Suppabuddha đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài, thật là tuyệt vời! Bạch Ngài, giống như người có thể lật ngửa vật đã được úp lại, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, đem lại cây đèn dầu nơi bóng tối (nghĩ rằng): ‘Những người có mắt sẽ nhìn thấy được các hình dáng;’ tương tự như thế Pháp đã được đức Thế Tôn giảng rõ bằng nhiều phương tiện. Bạch Ngài, con đây xin đi đến nương nhờ đức Thế Tôn ấy, Giáo Pháp, và Tăng Chúng tỳ khưu. Xin đức Thế Tôn chấp nhận con là nam cư sĩ đã đi đến nương nhờ kể từ hôm nay cho đến trọn đời.”
6. Sau đó, khi đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, gã cùi Suppabuddha đã thích thú, đã tùy hỷ lời dạy của đức Thế Tôn, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.
Sau đó, khi gã cùi Suppabuddha ra đi không bao lâu, một con bò cái với con bê non đã húc ngã và đã đoạt lấy mạng sống của gã cùi Suppabuddha.
7. Sau đó, nhiều vị tỳ khưu đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống ở một bên, các vị tỳ khưu ấy đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, người cùi tên Suppabuddha đã được đức Thế Tôn chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, người ấy đã qua đời. Đối với người ấy, cảnh giới tái sanh là gì, kiếp kế tiếp là gì?”
8. “Này các tỳ khưu, gã cùi Suppabuddha là người sáng suốt, đã thực hành Pháp tuần tự đốī với Giáo Pháp, và đã không quấy rầy Ta với sự việc liên quan đến Giáo Pháp. Này các tỳ khưu, gã cùi Suppabuddha do sự diệt tận ba sự ràng buộc là vị Nhập Lưu, có pháp không bị thối đọa, có sự tiến đến giác ngộ đã được chắc chắn.”
9. Khi được nói như vậy, một vị tỳ khưu nọ đã nói với đức Thế Tôn điều này: “Bạch Ngài, nhân gì, duyên gì khiến gã cùi Suppabuddha đã là người nghèo khó nhất, khốn khổ nhất, bần cùng nhất?”
10. “Này các tỳ khưu, vào thời quá khứ gã cùi Suppabuddha đã là con trai nhà triệu phú ở ngay tại thành Rājagaha này. Người ấy, trong khi được đưa đến khu vườn giải trí, đã nhìn thấy vị Phật Độc Giác đang đi vào thành để khất thực, sau khi nhìn thấy đã khởi ý điều này: ‘Gã cùi này là ai mà đi lang thang với y phục của người cùi vậy?’ rồi đã khạc nhổ, hướng vai trái (về phía vị Phật Độc Giác), và ra đi. Người ấy, do quả thành tựu của nghiệp ấy, đã bị nung nấu ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, với phần còn lại của chính nghiệp quả ấy, đã là người cùi ở ngay tại thành Rājagaha này, là người nghèo khó nhất, khốn khổ nhất, bần cùng nhất. Sau khi đi đến với Pháp và Luật đã được công bố bởi đức Như Lai, người ấy đã thọ trì niềm tin, đã thọ trì giới, đã thọ trì điều đã được nghe, đã thọ trì sự xả thí, đã thọ trì trí tuệ. Sau khi thọ trì niềm tin, sau khi thọ trì giới, sau khi thọ trì điều đã được nghe, sau khi thọ trì sự xả thí, sau khi thọ trì trí tuệ, người ấy do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, được sanh vào chốn an vui, cõi Trời, có sự cộng trú với chư Thiên cõi Ba Mươi Ba. Tại nơi ấy, người ấy chói sáng vượt trội chư Thiên khác không những về sắc đẹp mà còn về danh tiếng nữa.”
11. Sau đó, khi hiểu ra sự việc này, đức Thế Tôn vào thời điểm ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Tựa như người có mắt, trong khi đang có sự ra sức, nên tránh xa những nơi trắc trở, bậc sáng suốt, ở thế gian cuộc sống, nên tránh xa những điều ác.”
Bản dịch: Bhikkhu Indacanda
Dịch bởi Bhikkhu Indacanda. Trích từ bộ Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi–Việt — Phật Tự Thuyết (Udāna). Nguồn: http://www.tamtangpaliviet.net/. Sử dụng theo sự cho phép của dịch giả.
Pāli: Mahāsaṅgīti Tipiṭaka · Anh: Bhikkhu Sujato · Việt: Bản dịch AI (OpenTipitaka)
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
3. Kinh Suppabuddhakuṭṭhi (Người Phung Suppabuddha)
43. Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong khu rừng Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Bấy giờ, tại Rājagaha, có một người phung tên là Suppabuddha, là người nghèo khổ, bần cùng, khốn khó. Và bấy giờ, đức Thế Tôn đang ngồi thuyết pháp, được một đại chúng đông đảo vây quanh.
Addasā kho suppabuddho kuṭṭhī taṁ mahājanakāyaṁ dūratova sannipatitaṁ. Disvānassa etadahosi: “nissaṁsayaṁ kho ettha kiñci khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā bhājīyati. Yannūnāhaṁ yena so mahājanakāyo tenupasaṅkameyyaṁ. Appeva nāmettha kiñci khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā labheyyan”ti.
Suppabuddha saw the crowd seated off in the distance and thought, “Surely some fresh and cooked foods will be distributed there. Why don’t I approach the crowd? Hopefully I’ll get something to eat.”
Người phung Suppabuddha từ xa thấy đám đông dân chúng ấy đang tụ tập. Thấy vậy, ông ta nghĩ rằng: “Chắc chắn ở đây có thứ gì đó, hoặc đồ ăn cứng hoặc đồ ăn mềm, đang được phân phát. Ta nên đi đến chỗ đám đông dân chúng ấy. Có lẽ ta sẽ nhận được thứ gì đó, hoặc đồ ăn cứng hoặc đồ ăn mềm ở đó.”
Atha kho suppabuddho kuṭṭhī yena so mahājanakāyo tenupasaṅkami. Addasā kho suppabuddho kuṭṭhī bhagavantaṁ mahatiyā parisāya parivutaṁ dhammaṁ desentaṁ nisinnaṁ. Disvānassa etadahosi: “na kho ettha kiñci khādanīyaṁ vā bhojanīyaṁ vā bhājīyati. Samaṇo ayaṁ gotamo parisati dhammaṁ deseti. Yannūnāhampi dhammaṁ suṇeyyan”ti. Tattheva ekamantaṁ nisīdi: “ahampi dhammaṁ sossāmī”ti.
So he approached the crowd where he saw the Buddha teaching Dhamma, surrounded by a large assembly. When he saw this he thought, “There’s no food being distributed here. The ascetic Gotama is teaching Dhamma in an assembly. Why don’t I also listen to the teaching?” Right there he sat down to one side, thinking, “I also will listen to the teaching.”
Bấy giờ, người phung Suppabuddha đi đến chỗ đám đông dân chúng ấy. Người phung Suppabuddha thấy đức Thế Tôn đang ngồi thuyết pháp, được một đại chúng đông đảo vây quanh. Thấy vậy, ông ta nghĩ rằng: “Ở đây không có thứ gì, hoặc đồ ăn cứng hoặc đồ ăn mềm, đang được phân phát. Vị Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho hội chúng. Ta cũng nên nghe pháp.” Rồi ông ta ngồi xuống một bên ngay tại đó, (nghĩ rằng): “Ta cũng sẽ nghe pháp.”
Atha kho bhagavā sabbāvantaṁ parisaṁ cetasā ceto paricca manasākāsi “ko nu kho idha bhabbo dhammaṁ viññātun”ti? Addasā kho bhagavā suppabuddhaṁ kuṭṭhiṁ tassaṁ parisāyaṁ nisinnaṁ. Disvānassa etadahosi: “ayaṁ kho idha bhabbo dhammaṁ viññātun”ti. Suppabuddhaṁ kuṭṭhiṁ ārabbha anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—dānakathaṁ sīlakathaṁ saggakathaṁ; kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ; nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi. Yadā bhagavā aññāsi suppabuddhaṁ kuṭṭhiṁ kallacittaṁ muducittaṁ vinīvaraṇacittaṁ udaggacittaṁ pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ. Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya; evamevaṁ suppabuddhassa kuṭṭhissa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Then the Buddha focused on encompassing the minds of everyone in the assembly, thinking, “Who here is capable of understanding the teaching?” He saw Suppabuddha sitting in the assembly, and thought, “He is capable of understanding the teaching.” He gave a step by step talk especially for Suppabuddha on giving, ethical conduct, and heaven. He revealed the drawbacks of sensual pleasures, so sordid and corrupt, and the benefit of renunciation. When the Buddha knew that Suppabuddha’s mind was ready, pliable, rid of hindrances, elated, and confident he revealed the special teaching of the Buddhas: suffering, its origin, its cessation, and the path. Just as a clean cloth rid of stains would properly absorb dye, in that very seat the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in Suppabuddha: “Everything that is liable to arise is liable to cease.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn, với tâm của mình, bao trùm tâm của toàn thể hội chúng, đã tác ý rằng: “Ở đây, ai có khả năng liễu tri chánh pháp?” Đức Thế Tôn thấy người phung Suppabuddha đang ngồi trong hội chúng ấy. Thấy vậy, Ngài nghĩ rằng: “Người này ở đây có khả năng liễu tri chánh pháp.” Nhắm đến người phung Suppabuddha, Ngài thuyết một bài pháp tuần tự, nghĩa là: thuyết về bố thí, thuyết về giới, thuyết về cõi trời; Ngài tuyên thuyết về sự nguy hại, sự thấp kém, sự ô nhiễm của các dục; và về lợi ích của sự xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết người phung Suppabuddha có tâm sẵn sàng, tâm nhu nhuyến, tâm không triền cái, tâm hân hoan, tâm tịnh tín, bấy giờ Ngài tuyên thuyết bài pháp cốt tủy của chư Phật: khổ, tập, diệt, đạo. Giống như một tấm vải trong sạch, không còn vết đen, có thể thấm đều thuốc nhuộm, cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không trần, không uế đã khởi lên cho người phung Suppabuddha: “Bất cứ cái gì có bản chất sanh khởi, tất cả cái đó đều có bản chất đoạn diệt.”
Atha kho suppabuddho kuṭṭhī diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthu sāsane uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho suppabuddho kuṭṭhī bhagavantaṁ etadavoca:
Then Suppabuddha saw, attained, understood, and fathomed the Dhamma. He went beyond doubt, got rid of indecision, and became self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instructions. He rose from his seat and went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said:
Bấy giờ, người phung Suppabuddha, đã thấy pháp, đã đạt đến pháp, đã hiểu rõ pháp, đã thâm nhập pháp, đã vượt qua nghi ngờ, đã hết phân vân, đã đạt đến sự vô úy, không còn nương tựa vào người khác trong giáo pháp của bậc Đạo Sư, đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến chỗ đức Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người phung Suppabuddha bạch với đức Thế Tôn rằng:
“Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante. Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
“Excellent, sir! Excellent! As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways. I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha. From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
“Bạch Thế Tôn, thật vi diệu! Bạch Thế Tôn, thật vi diệu! Bạch Thế Tôn, giống như người ta lật ngửa vật bị úp, mở ra vật bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc, hoặc đem đèn dầu vào trong bóng tối để người có mắt có thể thấy các sắc; cũng vậy, chánh pháp đã được đức Thế Tôn tuyên thuyết bằng nhiều phương tiện. Bạch Thế Tôn, con xin quy y đức Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng. Xin đức Thế Tôn hãy ghi nhận con là một người cận sự nam, đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Atha kho suppabuddho kuṭṭhī bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavatā bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi. Atha kho acirapakkantaṁ suppabuddhaṁ kuṭṭhiṁ gāvī taruṇavacchā adhipatitvā jīvitā voropesi.
After Suppabuddha had been educated, encouraged, fired up, and inspired with a Dhamma talk by the Buddha, he got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving. But soon after Suppabuddha had left, a cow with a baby calf charged at him and took his life.
Bấy giờ, người phung Suppabuddha, sau khi được đức Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, đã vui mừng, tán thán lời dạy của đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh theo chiều bên phải rồi ra đi. Bấy giờ, không lâu sau khi ra đi, người phung Suppabuddha đã bị một con bò cái có con bê non húc chết.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ: “yo so, bhante, suppabuddho nāma kuṭṭhī bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito, so kālaṅkato. Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said, “The leper named Suppabuddha, after being educated, encouraged, fired up, and inspired with a Dhamma talk by the Buddha, has passed away. Where has he been reborn in his next life?”
Bấy giờ, đông đảo các Tỳ-khưu đi đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỳ-khưu ấy bạch với Thế Tôn: – ‘Bạch Thế Tôn, người cùi tên là Suppabuddha, người đã được Thế Tôn chỉ dạy, khuyến khích, làm cho phấn chấn, làm cho hoan hỷ bằng bài pháp thoại, người ấy đã mệnh chung. Sanh thú của người ấy là gì, đời sau sẽ ra sao?’
“Paṇḍito, bhikkhave, suppabuddho kuṭṭhī; paccapādi dhammassānudhammaṁ; na ca maṁ dhammādhikaraṇaṁ vihesesi. Suppabuddho, bhikkhave, kuṭṭhī tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
“Mendicants, Suppabuddha was astute. He practiced in line with the teaching, and did not trouble me about the teachings. With the ending of three fetters, Suppabuddha is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
– Này các Tỳ-khưu, người cùi Suppabuddha là bậc hiền trí; vị ấy đã thực hành pháp và tùy pháp; và đã không làm phiền Ta vì cớ pháp. Này các Tỳ-khưu, người cùi Suppabuddha, do đoạn trừ ba kiết sử, đã là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, chắc chắn sẽ chứng đắc Chánh giác.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca: “ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo yena suppabuddho kuṭṭhī ahosi—manussadaliddo, manussakapaṇo, manussavarāko”ti?
When he said this, one of the mendicants said to the Buddha, “What is the cause, sir, what is the reason why Suppabuddha became a leper, a poor person, destitute, and pitiful?”
Khi được nói vậy, một Tỳ-khưu bạch với Thế Tôn: – ‘Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà người cùi Suppabuddha đã là người nghèo khó, người khốn cùng, người bần tiện?’
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, suppabuddho kuṭṭhī imasmiṁyeva rājagahe seṭṭhiputto ahosi. So uyyānabhūmiṁ niyyanto addasa tagarasikhiṁ paccekabuddhaṁ nagaraṁ piṇḍāya pavisantaṁ. Disvānassa etadahosi: ‘kvāyaṁ kuṭṭhī kuṭṭhicīvarena vicaratī’ti? Niṭṭhubhitvā apasabyato karitvā pakkāmi. So tassa kammassa vipākena bahūni vassasatāni bahūni vassasahassāni bahūni vassasatasahassāni niraye paccittha. Tasseva kammassa vipākāvasesena imasmiṁyeva rājagahe kuṭṭhī ahosi manussadaliddo, manussakapaṇo, manussavarāko. So tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma saddhaṁ samādiyi sīlaṁ samādiyi sutaṁ samādiyi cāgaṁ samādiyi paññaṁ samādiyi. So tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma saddhaṁ samādiyitvā sīlaṁ samādiyitvā sutaṁ samādiyitvā cāgaṁ samādiyitvā paññaṁ samādiyitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapanno devānaṁ tāvatiṁsānaṁ sahabyataṁ. So tattha aññe deve atirocati vaṇṇena ceva yasasā cā”ti.
“Once upon a time, mendicants, Suppabuddha used to be a financier’s son right here in Rājagaha. On his way to visit a park, he saw Tagarasikhī, an independent Buddha, entering the city for alms. When he saw this he thought, “Who is this leper wandering about with his leper’s robe?” Before leaving, he spat on the ground and turned his left side to Tagarasikhī. As a result of that deed he burned in hell for many years, for many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands of years. And as a residual result of that same deed, he became a leper right here in Rājagaha, a poor person, destitute and pitiful. But owing to faith in the teaching and training proclaimed by the Realized One, he undertook ethics, learning, generosity, and wisdom. After undertaking these things, when his body broke up, after death, he was reborn in a good place, a heavenly realm, in the company of the gods of the thirty-three. There he outshines the other gods in beauty and glory.”
– Này các Tỳ-khưu, trong thời quá khứ, người cùi Suppabuddha đã là con của một trưởng giả tại chính thành Vương Xá này. Khi đang đi đến khu vườn, vị ấy thấy vị Phật Độc Giác tên là Tagarasikhi đang đi vào thành để khất thực. Thấy vậy, vị ấy khởi lên ý nghĩ: ‘Người cùi này đi đâu với y phục của người cùi vậy?’ Rồi vị ấy nhổ nước bọt, tỏ vẻ khinh miệt rồi bỏ đi. Do kết quả của nghiệp ấy, vị ấy đã bị nấu trong địa ngục nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm. Do quả báo còn sót lại của nghiệp ấy, tại chính thành Vương Xá này, vị ấy đã trở thành người cùi, nghèo khó, khốn cùng, bần tiện. Vị ấy, nhờ nương theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, đã thành tựu tín, thành tựu giới, thành tựu văn, thành tựu thí, thành tựu tuệ. Vị ấy, nhờ nương theo Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, sau khi thành tựu tín, thành tựu giới, thành tựu văn, thành tựu thí, thành tựu tuệ, sau khi thân hoại mạng chung, đã sanh vào cõi thiện, cõi trời, được làm bạn đồng hành với chư Thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba. Tại đấy, vị ấy sáng chói hơn các vị trời khác cả về dung sắc lẫn danh tiếng.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
Then, understanding this matter, on that occasion the Buddha expressed this heartfelt sentiment:
Bấy giờ, Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, vào lúc ấy đã thốt lên lời cảm hứng này:
“Cakkhumā visamānīva, vijjamāne parakkame; Paṇḍito jīvalokasmiṁ, pāpāni parivajjaye”ti.
Tatiyaṁ.
“As a clear-eyed man would avoid rough paths, so long as strength is found; an astute person in the living world, would shun bad deeds.”
‘Như người có mắt, khi có thể nỗ lực, tránh những chỗ không bằng phẳng; cũng vậy, bậc hiền trí trong thế gian, nên tránh xa các điều ác.’